Tổng hợp 8 Đề thi thử tốt nghiệp THPTQG môn Văn (2023-2026) Sở Ninh Bình (Có lời giải)
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Tổng hợp 8 Đề thi thử tốt nghiệp THPTQG môn Văn (2023-2026) Sở Ninh Bình (Có lời giải)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Tổng hợp 8 Đề thi thử tốt nghiệp THPTQG môn Văn (2023-2026) Sở Ninh Bình (Có lời giải)
Phần Câu Nội dung Điểm Viết được mở bài, kết bài cho bài văn II 2b1 - Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận. 0,5 - Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận. Giải thích được vấn đề nghị luận - Cái mới: là những sự vật, hiện tượng, ý tưởng hoặc cách làm xuất hiện lần đầu, hoặc có sự thay đổi, cải tiến so với cái cũ, chưa từng có trước đó hoặc chưa quen thuộc với mọi người, - Kì thị cái mới: thái độ e dè, phủ nhận, thậm chí không chấp nhận, phản đối hoặc II 2b2 coi thường những điều mới mẻ: ý tưởng, cách làm, con người, xu hướng, mới. 0,5 - Chấp nhận dễ dãi cái mới: tiếp nhận nhanh chóng, thiếu chọn lọc, không suy xét, cân nhắc kỹ sự đúng sai, lợi hại, bộc lộ sự hời hợt trước cái mới, => Đây là hai cách ứng xử có tính cực đoan, chưa phù hợp trước cái mới, mỗi người cần phải nhìn nhận, suy xét thấu đáo để có cách ứng xử đúng đắn, phù hợp đối với cái mới. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận Cái mới biểu hiện rất đa dạng, trên mọi lĩnh vực: những sự vật, hiện tượng trong đời sống; ý tưởng, phát kiến trong khoa học – công nghệ; một lối tư duy, cách làm mới; sự sáng tạo, phá cách trong nghệ thuật, sự thay đổi trong lối sống, Trình bày suy nghĩ về hai cách ứng xử với cái mới: - Kì thị cái mới: + Nguyên nhân: Do sợ thay đổi, tâm lí thích an toàn, do định kiến, thiếu hiểu biết, + Biểu hiện: e dè, hoài nghi cái mới; quay lưng, phủ nhận với cái mới; tìm cách huỷ II 2b3 hoại cái mới, 1,0 + Hậu quả: làm cho cái mới, cái khác biệt độc đáo không có cơ hội ra đời phát triển, bóp nghẹt và huỷ hoại sự sáng tạo; cá nhân mỗi người không có cơ hội tích luỹ, trải nghiệm với cái mới nên bỏ lỡ cơ hội tiến bộ của bản thân; đồng thời kìm hãm sự phát triển của xã hội, - Nhanh chóng chấp nhận cái mới một cách dễ dãi: + Nguyên nhân: bản thân cái mới thường có sức hấp dẫn riêng; tâm lí thích mới lạ, chạy theo trào lưu, thiếu bản lĩnh; thiếu hiểu biết, thiếu khả năng chọn lọc, + Biểu hiện: thái độ sùng mới, khinh cũ, coi cái mới là cái tốt nhất, cần mới hơn là hữu ích; tiếp nhận cái mới một cách ồ ạt không bình tĩnh suy xét tốt xấu, lợi hại, + Hậu quả: mất khả năng chọn lọc, phân biệt cái tốt – xấu, dễ bị cuốn theo cái tiêu cực, đánh mất giá trị nền tảng bền vững, hình thành lối sống dễ dãi, hời hợt, Phần Câu Nội dung Điểm Mở rộng, nâng cao được vấn đề nghị luận và rút ra bài học - Bày tỏ quan điểm cá nhân về 2 cách ứng xử: Thí sinh có thể nêu những quan điểm khác nhau nhưng cần có tính thuyết phục, đảm bảo đúng pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội. Có thể theo hướng: Đó là những ứng xử cực đoan, đều là biểu hiện của sự thiếu năng lực đánh giá cái mới: một bên khắt khe, đóng kín; một bên dễ dãi, thiếu chọn lọc. Vì vậy đều có thể gây ra hệ quả tiêu cực cho cá nhân và xã hội. - Trao đổi với những ý kiến trái chiều, những cách ứng xử cực đoan: khắt khe với cái mới và coi đó là sự cẩn thận, tinh tường hoặc là dễ dãi đón nhận cái mới và II 2b4 coi đó là cấp tiến, là hiện đại 0,5 - Mở rộng, nâng cao vấn đề: Trong bối cảnh cuộc sống hiện nay với nhiều thay đổi, sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, sự ra đời của cái mới là một quy luật phát triển tất yếu. - Bài học: + Nhìn nhận cái mới một cách khách quan, toàn diện: cởi mở nhưng tỉnh táo, không cực đoan. + Tiếp nhận cái mới: chọn lọc, dựa trên giá trị và sự phù hợp. + Giữ vững bản lĩnh, lập trường bản sắc cá nhân, không ngừng học hỏi, nâng cao hiểu biết để không chỉ tiếp nhận mà còn có thể tạo ra cái mới, đóng góp cho xã hội. Sáng tạo II 2b5 - Có những ý tưởng riêng, có tính thuyết phục. 0,5 - Có cách diễn đạt trong sáng, chuẩn mực, tinh tế. Tổng điểm 10,0 LỜI GIẢI THAM KHẢO I. ĐỌC HIỂU Câu 1. Xác định ngôi kể trong đoạn trích. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện không trực tiếp xưng “tôi” mà gọi nhân vật bằng tên hoặc đại từ như: Lin, y, phương sĩ nọ, đám ma Lin... Ngôi kể này giúp người kể có thể bao quát toàn bộ sự việc, miêu tả hành động, tâm lí nhân vật và đưa ra cái nhìn khách quan, linh hoạt về câu chuyện. Câu 2. Trong đoạn trích, linh đan trường sinh bất tử được nhân vật phương sĩ pha trộn từ những nguyên liệu nào? Trong đoạn trích, linh đan trường sinh bất tử được phương sĩ pha trộn từ các nguyên liệu: Tám chục lượng vàng vụn, tám lượng thủy ngân, một chỉ hùng hoàng và một chỉ thục hoàng. Những nguyên liệu này đều được miêu tả như các vật phẩm quý, tạo cảm giác huyền bí, kì ảo cho việc luyện thuốc trường sinh. Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp liệt kê trong câu văn đã cho. Câu văn sử dụng biện pháp liệt kê qua các cụm từ: “bọn lính dõng”, “đám gái xòe”, “lũ tôi tớ chăn dê, chăn ngựa, hầu hạ trong nhà”. Biện pháp liệt kê có tác dụng làm nổi bật quy mô rộng lớn của việc huy động người phục dịch cho quá trình bào chế thần dược. Gần như toàn bộ người trong ấp, từ lính tráng đến người hầu, từ nam giới đến phụ nữ, từ người lao động đến người phục dịch trong nhà đều bị lôi vào công việc này. Qua đó, câu văn cho thấy sự tốn kém, phi lí và tàn nhẫn trong hành động của Sẻ Sáo Lin. Vì khát vọng trường sinh bất tử của mình, hắn đã bắt bao người phải vất vả, cực nhọc. Cách liệt kê dồn dập còn góp phần thể hiện thái độ phê phán của tác giả đối với quyền lực độc đoán, sự mê muội và lòng tham sống sợ chết của con người. Câu 4. Nêu tác dụng của các yếu tố kì ảo được sử dụng trong đoạn trích. Các yếu tố kì ảo trong đoạn trích được thể hiện qua hình ảnh phương sĩ, việc luyện linh đan trường sinh bất tử, những nghi thức huyền bí như đợi đúng giờ Tỵ, lúc trời mở, hay niềm tin vào thuốc tiên, thần dược, thần quở phạt... Những yếu tố kì ảo ấy trước hết tạo nên không khí huyền bí, li kì, hấp dẫn cho câu chuyện. Chúng cũng góp phần tái hiện thế giới miền núi với những tín ngưỡng, hủ tục và niềm tin dân gian đặc biệt. Quan trọng hơn, yếu tố kì ảo làm nổi bật sự mê muội, hoang tưởng của Sẻ Sáo Lin. Vì sợ chết và khao khát kéo dài sự sống, Lin đã tin vào thứ linh đan phi lí, bất chấp việc bóc lột dân chúng và tàn phá thiên nhiên. Qua đó, nhà văn phê phán lòng tham, sự cuồng tín, mê tín dị đoan và ảo tưởng muốn chống lại quy luật tự nhiên của con người. Câu 5. Từ hình tượng linh đan trong đoạn trích, anh/chị hãy nêu những việc cần làm để nhận diện đúng giá trị của một sự việc trước khi tin tưởng và hành động. Từ hình tượng linh đan, mỗi người cần tỉnh táo trước những lời hứa hẹn quá hấp dẫn, đặc biệt là những điều trái với quy luật tự nhiên và thiếu cơ sở thực tế. Trước khi tin tưởng và hành động, cần kiểm chứng thông tin từ nhiều nguồn đáng tin cậy, biết lắng nghe ý kiến của người có hiểu biết, chuyên môn. Không nên hành động chỉ vì sợ hãi, tham vọng hoặc lợi ích trước mắt. Cần suy xét cả hậu quả đối với bản thân, người khác và cộng đồng. Mỗi người cũng phải rèn luyện tư duy phản biện để không bị mê hoặc bởi những điều hào nhoáng, kì bí nhưng giả dối. II. VIẾT – Gợi ý giải chi tiết Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích kết cục của nhân vật Sẻ Sáo Lin Gợi ý làm bài: Kết cục của Sẻ Sáo Lin là cái chết đau đớn, thảm hại và đầy mỉa mai. Lin là kẻ giàu có, quyền lực, từng tin rằng tiền bạc, địa vị và những phép thuật huyền bí có thể giúp mình chiến thắng thời gian. Vì sợ chết, hắn đã huy động biết bao người, tàn phá núi rừng, tiêu tốn của cải để luyện “linh đan” trường sinh. Nhưng cuối cùng, thứ thuốc mà hắn tin là “tiên dược” lại khiến hắn chết nhanh hơn. Kết cục ấy thể hiện sự trừng phạt đối với lòng tham sống, sự mê muội và thói ngông cuồng muốn chống lại quy luật tự nhiên. Đoạn văn tham khảo: Kết cục của nhân vật Sẻ Sáo Lin trong đoạn trích Móng vuốt thời gian là một kết cục đau đớn, thảm hại và giàu ý nghĩa cảnh tỉnh. Là một thổ ty giàu có, quyền lực, Lin tưởng rằng của cải và địa vị có thể giúp mình kéo dài sự sống, thậm chí chiến thắng cả thời gian. Vì nỗi sợ cái chết, hắn mù quáng tin vào phương sĩ, dốc sức luyện thứ “linh đan” trường sinh bất tử. Để có được thứ thuốc ấy, Lin đã huy động cả người trong ấp, tiêu tốn vàng bạc, củi than, tàn phá núi rừng và bóc lột sức dân. Thế nhưng, kết quả lại hoàn toàn trái ngược với mong muốn: sau khi uống “thuốc tiên”, Lin chết trong đau đớn, “ói mửa, rên la quằn quại”, thân thể bại xuội, mặt đen tím. Cái chết ấy là sự mỉa mai sâu sắc đối với ảo tưởng trường sinh và sự mê muội của con người. Qua kết cục của Sẻ Sáo Lin, nhà văn Ma Văn Kháng phê phán lòng tham, sự cuồng tín, thói độc đoán của kẻ có quyền lực, đồng thời khẳng định không ai có thể chống lại quy luật tất yếu của thời gian và sự sống. Câu 2. Nghị luận khoảng 600 chữ về hai cách ứng xử trước cái mới: kì thị hoặc chấp nhận dễ dãi Gợi ý làm bài: Vấn đề nghị luận đặt ra là thái độ của con người trước cái mới. Có người kì thị, phủ nhận ngay từ đầu; có người lại tiếp nhận quá nhanh, quá dễ dãi. Cả hai thái độ này đều chưa đúng. Con người cần có thái độ cởi mở nhưng tỉnh táo, biết tiếp nhận có chọn lọc. Bài văn tham khảo: Trong đời sống, sự vận động và đổi thay là quy luật tất yếu. Mỗi ngày, con người đều đứng trước những quan niệm mới, lối sống mới, công nghệ mới, phương pháp học tập và làm việc mới. Tuy nhiên, trước cái mới, có người kì thị, phủ nhận, nhưng cũng có người nhanh chóng chấp nhận một cách dễ dãi. Đây là hai cách ứng xử cực đoan, đòi hỏi mỗi người phải biết suy nghĩ tỉnh táo để có thái độ đúng đắn. Trước hết, cái mới là những điều vừa xuất hiện hoặc chưa quen thuộc trong đời sống, có thể là một phát minh khoa học, một quan điểm sống, một phương pháp học tập, một xu hướng văn hóa hay một cách làm khác với thói quen cũ. Kì thị cái mới là thái độ nghi ngờ, bài xích, phủ nhận cái mới chỉ vì nó khác lạ, chưa giống với điều mình từng biết. Ngược lại, chấp nhận dễ dãi là thái độ tiếp nhận cái mới quá nhanh, thiếu suy xét, chưa kiểm chứng đúng sai, tốt xấu. Thái độ kì thị cái mới thường xuất phát từ tâm lí bảo thủ, ngại thay đổi hoặc sợ mất đi những giá trị quen thuộc. Người có thái độ này dễ nhìn cái mới bằng ánh mắt định kiến, chưa tìm hiểu đã vội phủ nhận. Cách ứng xử ấy có thể khiến con người bỏ lỡ cơ hội phát triển. Trong lịch sử, nhiều phát minh khoa học, nhiều tư tưởng tiến bộ từng bị nghi ngờ, phản đối khi mới xuất hiện, nhưng sau đó lại chứng minh giá trị lớn lao đối với nhân loại. Trong đời sống hôm nay, nếu học sinh kì thị phương pháp học tập mới, người lao động kì thị công nghệ mới, xã hội sẽ khó tiến bộ. Vì vậy, phủ nhận cái mới một cách cực đoan là thái độ không phù hợp. Tuy nhiên, chấp nhận cái mới một cách dễ dãi cũng là điều nguy hiểm. Không phải cái gì mới cũng đúng, cũng tốt, cũng phù hợp. Có những xu hướng được quảng bá rầm rộ nhưng thiếu giá trị; có những trào lưu trên mạng xã hội gây ảnh hưởng xấu đến suy nghĩ, hành vi của giới trẻ; có những sản phẩm công nghệ nếu sử dụng thiếu kiểm soát sẽ khiến con người lệ thuộc, lười tư duy. Nếu chỉ vì thấy cái mới hấp dẫn, lạ lẫm mà vội vàng tin theo, con người rất dễ bị dẫn dắt, đánh mất khả năng phán đoán và thậm chí gây hại cho bản thân, gia đình, cộng đồng. Vậy cần ứng xử thế nào trước cái mới? Theo tôi, con người cần có thái độ cởi mở nhưng không dễ dãi, thận trọng nhưng không bảo thủ. Trước một điều mới, ta nên tìm hiểu nguồn gốc, bản chất, mục đích và tác động của nó. Cần biết so sánh với những giá trị đúng đắn đã được kiểm chứng, lắng nghe ý kiến của người có hiểu biết, đồng thời tự đặt câu hỏi: điều này có lợi ích gì, có phù hợp với đạo đức, pháp luật và hoàn cảnh thực tế không? Nếu cái mới tiến bộ, nhân văn, có ích, ta nên mạnh dạn tiếp nhận. Nếu cái mới lệch lạc, độc hại, ta cần tỉnh táo từ chối. Đối với học sinh, thái độ đúng trước cái mới càng quan trọng. Chúng ta cần chủ động tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới, phương pháp học tập mới để phát triển bản thân. Nhưng đồng thời, mỗi người cũng phải rèn luyện tư duy phản biện, không chạy theo trào lưu một cách mù quáng, không xem cái mới là thước đo duy nhất của sự tiến bộ. Biết chọn lọc cái mới chính là biểu hiện của bản lĩnh và trí tuệ. Tóm lại, cả kì thị cái mới lẫn chấp nhận cái mới một cách dễ dãi đều là những thái độ phiến diện. Trong một thế giới luôn đổi thay, con người cần biết mở lòng với cái mới, nhưng phải tiếp nhận bằng sự hiểu biết, tỉnh táo và trách nhiệm. Chỉ khi đó, cái mới mới thực sự trở thành động lực giúp mỗi cá nhân và xã hội phát triển bền vững. ĐỀ SỐ 4 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025 NINH BÌNH MÔN: NGỮ VĂN LẦN 1 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích: Những người đàn bà bán ngô nướng Những người đàn bà bán ngô nướng Cắn vào kí ức Bày số phận mình bên đường Từng hạt ngô rơi Những nhem nhuốc bên ngoài che dấu Những kỉ niệm lon ton Bao ngọt lành, nóng hổi bên trong Những hạt ngô - những giọt lệ của mẹ Người đi qua thờ ơ Những mắt tròn xoe đói khát em thơ Hay rẻ rúng cẩm lên vứt xuống Không dám căn nữa áp bắp ngô lên má Những tờ bạc lẻ đè lên mùi thơm Hình như là nông ráp ô rơm? Người đàn bà bán dần từng mảnh đời mình nuôi Hình như là bờ vai cha mằn mặn con Che gió mùa, ấp ủ... nửa đêm... Người bán Ngô thổi hồng bếp lửa Tôi ngồi xuống hai bàn tay ấp ủ Xoay những mảnh đời dù cháy vẫn còn Một tuổi thơ lam lũ ruộng bùn thơm! (Nguyễn Đức Hạnh, trích Khoảng lặng, NXB Đại học Thái Nguyên, 2016, tr.107-108) Trả lời các câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (NB). Từ ngữ nào dùng để chỉ nhân vật trữ tình trong bài thơ trên? Câu 2 (TH). Trong bài thơ, người đi đường và nhân vật trữ tình có thái độ như thế nào đối với những bắp ngô nướng được bày bán bên đường? Câu 3 (TH). Phân tích mối liên hệ giữa hình ảnh “số phận bên đường” ở khổ thứ nhất với hình ảnh “bản dần từng mảnh đời” ở khổ thứ hai. Câu 4 (VD). Nêu tác dụng của biện pháp lặp cấu trúc trong đoạn thơ: áp bắp ngô lên mà Hình như là nồng ráp ổ rơm? Hình như là bờ vai cha mằn mặn Che gió mùa, ấp ủ... nửa đêm ... Câu 5. Từ suy ngẫm của tác giả Người bản Ngô thổi hồng bếp lửa - Xoay những mảnh đời dù chảy vẫn còn thơm, anh/chị có suy nghĩ gì về ý nghĩa của việc giữ gìn nhân cách trước những thử thách, cám dỗ của cuộc sống? (Trả lời khoảng 5 - 7 dòng) II. VIẾT Câu 1. Anh/Chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích mạch cảm xúc của bài thơ Những người đàn bà bán ngô nướng (Nguyễn Đức Hạnh). Câu 2. Sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được bày tỏ quan điểm riêng trước các vấn đề của đời sống, tuy nhiên cũng để lại nhiều hệ lụy. Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về trách nhiệm trong phát ngôn trên mạng xã hội. ---------------------HẾT--------------------- ĐÁP ÁN I. ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương pháp: Đọc, tìm ý Cách giải: Từ ngữ dùng để chỉ nhân vật trữ tình trong bài thơ: “Tôi”. Câu 2: Phương pháp: Đọc phân tích, cảm nhận. Cách giải: Trong bài thơ, người đi đường và nhân vật trữ tình có thái độ khác nhau đối với những bắp ngô nướng được bày bán bên đường: - Người đi đường: “thờ ơ”, “rẻ rúng cầm lên vứt xuống”. - Nhân vật trữ tình: “ngồi xuống hai bàn tay ấp ủ” → thái độ trân trọng, nâng niu. Câu 3: Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích. Cách giải: Hình ảnh “số phận bên đường” ở khổ thơ thứ nhất với hình ảnh “bán dần từng mảnh đời” ở khổ thơ thứ hai đều là những hình ảnh mang tính biểu tượng: “số phận bên đường” gợi ra những mảnh đời khốn khó trong cuộc sống mưu sinh vất vả, nhọc nhằn; “bán dần từng mảnh đời” khắc họa sự hi sinh mỏi mòn qua năm tháng. Hai hình ảnh thơ tương hỗ, bổ sung cho nhau thể hiện được vẻ đẹp của người đàn bà bán ngô: trong khó khăn, vất vả cứ hi sinh âm thầm để mang đến cái ấm áp, ngọt ngào cho con cái. Câu 4: Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu Cách giải: - Biện pháp lặp cấu trúc trong đoạn thơ: “hình như là ”. - Tác dụng: + Tạo nhịp điệu trầm lắng cho lời thơ. + Nhấn mạnh những hồi tưởng của nhân vật trữ tình về một tuổi thơ khốn khó, cơ cực “nồng ráp ổ rơm” mà ấm áp nhờ sự hi sinh, chở che của người cha. Câu 5: Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu. Cách giải: Tham khảo một số gợi ý sau: - Việc giữ gìn nhân cách trước những thử thách, cám dỗ của cuộc sống là vô cùng quan trọng: + Giúp con người duy trì được những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như lời dạy của ông cha: “Đói cho sạch, rách cho thơm”. + Giúp con người sống tự tin, kiên định trước khó khăn, không bị sa ngã trước những thử thách, cám dỗ trong cuộc sống. + Giúp con người nhận được sự yêu quý, kính trọng của những người xung quanh. + Góp phần tạo nên một xã hội văn minh, tiến bộ Phần II. Câu 1: Phương pháp: Đọc kĩ văn bản, phân tích, cảm nhận. Cách giải: - Mạch cảm xúc của bài thơ được khơi nguồn từ hình ảnh của những người đàn bà bán ngô bên lề đường – những người lao động dãi dầu mưa nắng để mưu sinh. - Khác với sự “thờ ơ”, “rẻ rúng” của bao người, cảm xúc ban đầu của nhân vật trữ tình là sự đồng cảm, sẻ chia cho “số phận bên đường” của người đàn bà bán ngô. Tiếp đến là sự hồi tưởng về những kí ức, kỉ niệm một thuở khó khăn, lam lũ của cha mẹ. Khép lại bài thơ là những suy ngẫm, sâu sắc của nhà thơ về lẽ sống trong cuộc đời: dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải gìn giữ nhân cách sống. → Mạch cảm xúc vận động một cách tự nhiên, khơi gợi trong người đọc những suy ngẫm về lẽ sống trong cuộc đời trước những cảnh đời lam lũ hay trước những điều bình dị, nhỏ bé mà ta bắt gặp trong cuộc sống. Câu 2: Phương pháp: Phân tích, giải thích, Cách giải: a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận Thái độ khác nhau của con người đối với trí tuệ nhân tạo: hào hứng đón nhận lợi ích; lo lắng về sự phụ thuộc của con người vào nó. c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng: * Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Thân bài: - Giải thích: + Phát ngôn trên mạng xã hội được hiểu là việc đưa ra ý kiến, quan điểm cá nhân của bản thân về một vấn đề nào đó một cách công khai thông qua các bình luận, bài viết trên các nền tảng xã hội như Facebook, Zalo, Instagram,.. → Người trẻ cần có trách nhiệm với những phát ngôn trên các nền tảng mạng xã hội. - Bàn luận: + Tốc độ lan truyền thông tin, tốc độ ảnh hưởng của mạng xã hội ngày nay là rất lớn. Từ đó con người khi sử dụng mạng xã hội ngày càng phải có trách nhiệm hơn với phát ngôn của mình. + Xác thực thông tin, tìm hiểu kĩ các thông tin trước khi đưa ra nhận xét, đánh giá về một vấn đề xã hội. + Sử dụng ngôn từ phù hợp, văn minh tránh những từ ngữ mag tính chất thô tục, ngôn ngữ gây kích động, chia rẽ, mâu thuẫn. + Ý thức được trách nhiệm cũng như hệ quả với những phát ngôn thiếu suy nghĩ của bản thân. + Cần tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội để tránh những phát ngôn thiếu văn hóa dẫn đến những tranh cãi không đáng có. - Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. d. Diễn đạt: Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
File đính kèm:
tong_hop_8_de_thi_thu_tot_nghiep_thptqg_mon_van_2023_2026_so.docx

