Bộ 5 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Hà Nội 2022-2026 (Có đáp án)

docx 32 trang ducduy 30/05/2026 70
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ 5 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Hà Nội 2022-2026 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 5 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Hà Nội 2022-2026 (Có đáp án)

Bộ 5 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Hà Nội 2022-2026 (Có đáp án)
 PHIẾU CHẤM
I. ĐỌC HIỂU
 CÂU NỘI DUNG Thang Chấm
 1 Thể thơ tự do 0,75
 2 Chỉ ra 02 biện pháp tu từ như Hướng dẫn chấm 0,75
 3 Vẻ đẹp của đất nước: giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, duyên dáng, trù phú 1,0
 Lí giải được hình ảnh nụ cười xinh và nước mắt. Rút ra thái độ sống tích cực, 
 4 0,5
 lạc quan
 Tổng điểm phần I 3,0
II. LÀM VĂN
 Thang 
CÂU NỘI DUNG
 Chấm
 a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn 0,25
 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: suy nghĩ về cách ứng xử cần có của tuổi trẻ trước 
 0,25
 cái mới trong thời đại công nghệ số
 c. Triển khai vấn đề nghị luận
 Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp; Trình bày rõ quan 
 1 điểm và hệ thống các ý; Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Cái mới là đặc tính của sự phát 
 1,0
 triển; cần phân biệt, hiểu rõ mặt tích cực và hạn chế của cái mới; tiếp nhận nhưng không
 mất bản sắc; tránh cách ứng xử với cái mới bất cập, thái quá.
 d. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp 0,25
 đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc; có cách diễn đạt mới mẻ. 0,25
 Điểm câu 1 (Phần II) 2,0
 a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài nghị luận văn học 0,25
 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Đêm xử kiện đầy vô lí, bất công với A Phủ và nỗi 
 đọa đày mà Mị phải chịu tại nhà thống lí Pá Tra, thấy được thân phận bất hạnh của A 0,5
 Phủ và Mị dưới chế độ thực dân và chúa đất miền núi.
 c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm (lựa chọn, sắp xếp hệ thống ý hợp lý)
 2 + Giới thiệu tác giả, tác phẩm, trích đoạn 0,5
 + Phân tích nét đặc sắc về nội dung, nghệ thuật và đánh giá chung 2,5
 + Nhận xét về số phận người lao động 0,5
 d. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp 0,25
 đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc; có cách diễn đạt mới mẻ. 0,5
 Điểm câu 2 (Phần II) 5,0
 Tổng điểm toàn bài 10,0 ĐỀ SỐ 4
 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2023
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
 MÔN: NGỮ VĂN
 HÀ NỘI
 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
 I. ĐỌC HIỂU 
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: 
 Các nhà nghiên cứu nhận thấy ngày càng rõ rằng "hy vọng" không chỉ làm vững lòng ta khi mọi 
thứ đang diễn ra tồi tệ, mà nó còn đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc đời và ban phát điều tốt lành 
như thành công về học tập ở nhà trường cũng như những công việc khó khăn khác. Về mặt lý thuyết, hy 
vọng chỉ là cách nhìn lạc quan theo đó mọi cái sẽ tốt đẹp hơn. 
 Theo nghĩa ấy, mọi thứ đều có thể có hy vọng. Một số người tin chắc, họ sẽ thoát khỏi tất cả trở 
ngại hoặc sẽ tìm thấy giải pháp cho mọi vấn đề của họ, trong khi những người khác cho rằng mình 
không thể có nghị lực, năng lực hay phương tiện cần thiết để đi tới đỏ. Snyder nhận xét những người tin 
vào tương lai của mình có một số nét chung họ biết tự thúc đẩy và tự thuyết phục khi gặp rủi ro, rằng 
mọi cái rồi sẽ đâu vào đẩy và họ tin chắc rằng có nhiều phương tiện để đạt được mục tiêu của mình, họ 
cũng đủ thông mình để chia một nhiệm vụ khó khăn thành những nhiệm vụ nhỏ dễ thực hiện hơn. 
Về mặt tri tuệ xúc cảm, "hy vọng" có nghĩa là không lùi bước trước lo lắng, không buông tay hoặc 
chân nàn khi đương đầu với khó khăn hay thất vọng. Thật vậy, những người tự tin nói chung ít lo lắng và 
ít bị rối nhiễu xúc cảm trong cuộc sống. 
 (Trích Tri tuệ xúc cảm - Daniel Goleman, NXB Lao động - Xã hội, 2018, tr. 125-126) 
* Snyder: Charles Richard "Rick" Snyder là một nhà tâm lý học người Mỹ chuyên về tâm lý học tích cực. 
Tác giả đã phỏng vấn C.R. Snyder trong The New York Times, ngày 24/12/1991. 
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt của đoạn trích. 
Câu 2: Theo đoạn trích, về mặt trí tuệ xúc cảm, hy vọng có nghĩa là gì? 
Câu 3: Nhận xét mọi thứ đều đều có thể hy vọng gợi cho anh/chị suy nghĩ gì? 
Câu 4: Anh/chị có đồng tình với ý kiến chia nhiệm vụ khó khăn thành những nhiệm vụ nhỏ dễ thực 
hiện hơn. Vì sao? 
II. LÀM VĂN 
Câu 1: Từ đoạn ngữ liệu ở phần Đọc- hiểu, anh/ chị viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày 
suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của sự tự tin trong cuộc sống. 
Câu 2:
Trong đoạn trích Đất Nước, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết: 
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi 
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa...” mẹ thường hay kể 
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn 
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc 
Tóc mẹ thì bới sau đầu 
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên 
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng 
Đất Nước có từ ngày đó... 
 (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam 2020, tr.118)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên; từ đó, nhận xét quan niệm về Đất Nước được thể hiện trong đoạn 
thơ. HƯỚNG DẪN GIẢI
I. ĐỌC HIỂU 
Câu 1 
Phương pháp: Vận dụng những kiến thức đã học về phương thức biểu đạt. 
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận. 
Câu 2 
Phương pháp: Đọc, tìm ý. 
Về mặt trí tuệ cảm xúc, hi vọng nghĩa là không lùi bước trước lo lắng, không buông tay hoặc chán nản 
khi đương đầu với khó khăn hay thất vọng. 
Câu 3 
Phương pháp: Phân tích, lý giải, tổng hợp. 
Học sinh tự trình bày theo quan điểm cá nhân của mình, có lý giải. 
Gợi ý: 
"Mọi thứ đều có thể hi vọng" có thể hiểu là: 
- Ta có thể hi vọng khi gặp những điều may mắn ta sẽ nhanh chóng đạt được những mục tiêu đề ra. - Ta 
có thể hi vọng khi ta gặp khó khăn, vấp ngã, tất cả mọi khó khăn đó chỉ là thử thách, cứ tiến về phía 
trước bằng sự nỗ lực, niềm tin và hi vọng ta sẽ đạt được thành công. 
=> Dù thành công hay thất bại ta đều có thể hi vọng. 
Câu 4 
Phương pháp: Phân tích, lý giải, tổng hợp. 
Học sinh trình bày theo suy nghĩ của bản thân, có lý giải phù hợp. 
Gợi ý: 
- Đồng tình với quan điểm. 
- Vì: 
+ Khi cả một vấn đề khó khăn lớn ập đến sẽ dễ khiến ta sợ hãi, chán nản. Bởi vậy chia ra, sẽ giúp bạn đỡ 
choáng ngợp hơn. 
+ Khi chia thành nhiệm vụ nhỏ ta sẽ xác định được phần nào dễ, phần nào khó để từ đó có thể đưa ra 
những phương án giải quyết phù hợp. 
II. LÀM VĂN 
Câu 1 
Phương pháp: Vận dụng kiến thức đã học về cách làm một đoạn nghị luận xã hội.
1. Giới thiệu vấn đề nghị luận: tầm quan trọng của sự tự tin trong cuộc sống. 
2. Giải thích. 
- Tự tin là: là sự tin tưởng vào khả năng, giá trị và sức mạnh của bản thân mình, chủ động trong mọi 
công việc, dám tự quyết định và hành động một cách chắc chắn, không hoang mang dao động. => Sự tự 
tin có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc đời mỗi người. 
3. Bàn luận. 
- Mỗi người có một thế mạnh, tài năng riêng, bởi vậy cần tự tin vào chính mình mới có thể vươn đến 
thành công. - Vai trò của sự tự tin: + Tự tin giúp ta vững tin vào cuộc sống, thêm yêu đời hơn, giúp ta vượt qua nỗi sợ hãi, bi quan, chán nản. 
+ Tự tin giúp ta có thể dễ dàng tỏa sáng những tài năng của mình. 
+ Tự tin và yếu tố quan trọng giúp ta thành công. 
+ Tự tin tạo ra một con người tràn đầy năng lượng tích cực, lan tỏa những điều tốt đẹp đến những người 
xung quanh. 
+... 
- Học sinh lấy dẫn chứng phù hợp. 
- Phê phán, lên án những con người thiếu tự tin dẫn đến tự ti, mặc cảm dễ thất bại trong cuộc sống. 
4. Tổng kết vấn đề. 
Câu 2 
Phương pháp: 
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng). 
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,) để tạo lập một văn bản nghị luận văn 
học.
* Yêu cầu hình thức: 
- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản. 
- Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; 
không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. 
* Yêu cầu nội dung: 
I. Giới thiệu chung 
- Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Phong cách nghệ thuật 
đậm chất triết lí, giàu chất suy tưởng. 
- Đoạn trích Đất Nước nằm trong tập trường ca Mặt đường khát vọng của được viết trong thời kì chống 
Mĩ. Đoạn trích là cách định nghĩa mới mẻ về đất nước với tư tưởng bao trùm “Đất nước của nhân dân”. 
- Khái quát vấn đề: Phân tích đoạn thơ; từ đó, nhận xét quan niệm về Đất Nước được thể hiện trong đoạn 
thơ. 
II. Phân tích 
1. Phân tích đoạn trích:
* Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần đầu của tác phẩm khi tác giả đi lý giải, định nghĩa về đất nước. 
* Cội nguồn của đất nước: 
- Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con 
người muốn tìm đến nguồn cội đất nước. 
+ “Ta”: người đại diện nhân xưng cho cả một thế hệ nói lên ý thức tìm hiểu cội nguồn. 
+ Thôi thúc con người tìm hiểu cội nguồn của đất nước 
- Nguyễn Khoa Điềm đã tìm hiểu và lý giải cội nguồn của đất nước: Đất nước bắt đầu bằng lời kể của 
mẹ, miếng trầu bà ăn, từ phong tục tập quán quen thuộc, từ tình nghĩa thủy chung,.. 
- Đất nước được cảm nhận bằng chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian và chiều sâu của lịch 
sử văn hóa dân tộc. 
* Sự cảm nhận đất nước ở phương diện lịch sử, văn hóa - Đất nước gắn liền với nền văn hóa lâu đời của dân tộc: 
+ Câu chuyện cổ tích, ca dao 
+ Phong tục của người Việt: ăn trầu, bới tóc 
- Đất nước lớn lên từ trong đau thương, vất vả cùng với cuộc trường chinh của con người: 
+ Cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, gắn liền với hình ảnh cây tre – biểu tượng cho sức sống bất 
diệt của dân tộc. 
- Gắn với nền văn minh lúa nước, lao động vất vả 
- Đất nước gắn liền với những con người sống ân tình, thủy chung. 
* Nghệ thuật: 
- Sử dụng thành công chất liệu văn học dân gian 
- Giọng thơ tâm tình, nhẹ nhàng 
=> Đoạn thơ mở đầu giản dị, thân thiết như câu chuyện kể, giọng thơ thâm trầm, trang nghiêm làm cho 
suy tư về cội nguồn đất nước giàu chất triết luận mà vẫn tha thiết, trữ tình. Lý giải một khái niệm lớn lao 
bằng những hình ảnh bình dị, quen thuộc để khẳng định: Đất nước đã có từ rất lâu đời, sự hình thành 
phát triển của đất nước giắn với những gì nhỏ bé, bình dị, thân thuộc trong mỗi đời sống con người Việt 
Nam. 
2. Nhận xét quan niệm của nhà thơ về Đất Nước. 
- Khi lí giải đất nước có từ đâu, tác giả đã lí giải bằng những gì gần gũi, thân thuộc trong mỗi gia đình 
chúng ta (với những câu chuyện “ ngày xửa ngày xưa”, với miếng trầu mang đậm nét văn hóa dân tộc, 
với truyền thuyết sâu thẳm trong tâm hồn Việt “ Thánh Gióng”. 
- Đất nước được cảm nhận trong chiều sâu tâm hồn nhân dân và văn hóa, lịch sử: Đất nước là phong tục 
“búi tóc sau đầu”, là vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của dân tộc “ gừng cay muối mặn”. 
- Đất nước gắn liền với nền văn minh lúa nước lâu đời “ hạt gạo phải một nắng hai sương say, giã, giần, 
sàng” - Đất nước còn được cảm nhận bằng những phong tục dân dã, gần gũi của dân tộc bằng những cái 
tên nôm na, giản dị “ cái kèo, cái cột thành tên”. 
=> Đất Nước dưới quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm không phải của riêng ai. Đất Nước được sinh ra từ 
nhân nhân, hình thành trong nhân dân và thuộc về nhân dân. 
III. Kết luận 
- Khái quát lại vấn đề. 
- Giá trị nội dung, nghệ thuật. ĐỀ SỐ 5
 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2022
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
 MÔN: NGỮ VĂN
 HÀ NỘI
 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc bài thơ:
 Tôi chẳng muốn kỷ niệm về tôi là một điều hát buồn
Bao bài ca xáo trộn trong tôi Tôi chọn bài ca của mùa hạ nắng
Có tiếng khóc của con chim gãy cánh Tôi chọn bài ca của người gieo hạt
Tiếng đau rên của ngôi nhà đổ sập Hôm nay là mầm, mai sẽ thành cây
Tiếng con thuyền không về được bến quen Khổ đau dẫu nhiều, tôi chọn niềm vui
Tiếng mưa rơi trên ngọn cỏ yêu mềm... Là suối mát lòng tôi gửi bạn
Nhưng đêm hồi này, chỉ một lần tôi được hát Một cuộc đời - một bài ca duy nhất
Chỉ sống một cuộc đời giữa vô cùng năm tháng Tôi chẳng muốn điều hát buồn là kỷ niệm về tôi.
Chỉ một lần gặp bạn, bạn yêu thương
Chẳng muốn kỷ niệm về tôi là một điều hát buồn
 (Trích Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi,
 Lưu Quang Vũ, NXB Hội Nhà văn, 2010, trang 185)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1.
Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2.
Chỉ ra những chi tiết diễn tả về những nỗi buồn của nhà thơ.
Câu 3.
Anh/Chị hiểu gì về nhan đề bài thơ: Tôi chẳng muốn kỷ niệm về tôi là một điều hát buồn?
Câu 4.
Nêu ý nghĩa của từ ngữ “Một cuộc đời - một bài ca duy nhất” trong bài thơ.
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy 
nghĩ của anh/chị về sự cần thiết của lối sống chủ động, tích cực với mỗi người.
Câu 2 (5,0 điểm)
 Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo Cồn Hến quanh năm mơ 
màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của 
những vườn cau vùng ngoại ô Vĩ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi 
dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ. Đó với 
Huế, nơi đây chính là chỗ chia tay đầy xúc động ngoài dặm trường đình. Riêng với sông Hương, vẫn 
đang xuôi chảy giữa cánh đồng phù sa êm ái của nó, khúc quanh này thực bất ngờ biết bao. Có một cái gì rất lạ với thiên nhiên và rất giống con người ở đây; và để nhân cách hóa nó lên, tôi gọi đấy là nỗi 
vương vấn, cả một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu. Và giống như nàng Kiều trong đêm tình tự, ở ngã rẽ 
này, sông Hương đã chí tình trở lại tìm Kim Trọng của nó, để nói một lời thề trước khi về biển cả: “Còn 
non, còn nước, còn dài, còn về, còn nhớ...” Lời thề ấy vang vọng khắp lưu vực sông Hương thành giọng 
hò dân gian; ấy là tấm lòng người dân nơi Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở.
 (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông, Hoàng Phủ Ngọc Tường,
 Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.200-201)
Phân tích vẻ đẹp của sông Hương trong đoạn trích trên; từ đó, nhận xét nét độc đáo trong cái nhìn của tác 
giả về thiên nhiên đất nước. HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần Câu Nội dung Điểm
 ĐỌC HIỂU 3,0
I Thể thơ: Tự do
 Hướng dẫn chấm:
 1 0,75
 - Học sinh trả lời như đáp án: 0,75 điểm;
 - Học sinh trả lời không đúng thể thơ không cho điểm.
 Học sinh chỉ ra những chi tiết diễn tả về những nỗi buồn của nhà thơ: tiếng khóc 
 của con chim gãy cánh; Tiếng đau rên của ngôi nhà đổ sập; Tiếng con thuyền 
 không về được bờ quen; Tiếng mưa rơi trên ngọn cỏ yếu mềm....
 Hướng dẫn chấm:
 2 - Học sinh chỉ ra được từ 3 chi tiết: 0,75 điểm; 0,75
 - Học sinh chỉ ra được 2 chi tiết: 0,5 điểm;
 - Học sinh chỉ ra được 1 chi tiết: 0,25 điểm.
 Lưu ý: Học sinh có thể chép lại những câu thơ có các chi tiết diễn tả về những nỗi 
 buồn. Không cho điểm nếu học sinh chép lại cả bài thơ.
 - Nhan đề bài thơ đã thể hiện mong muốn dứt khoát: chối bỏ điệu hát buồn trong kỷ 
 niệm của mọi người về tôi.
 - Mong muốn ấy được thể hiện bằng kiểu câu trần thuật phủ định tạo ấn tượng 
 mạnh mẽ, và cuối bài thơ, một lần nữa ý thơ được lặp lại, đã tạo nên dư âm và nỗi 
 trăn trở cho người đọc.
 - Đặt trong mạch cảm xúc của bài thơ, nhan đề cho thấy: cuộc đời không tránh 
 3 được những nỗi buồn, nhưng đừng biến đời mình chỉ là một điệu hát buồn. 1,0
 - Từ đó, nhan đề đã gọi nên một nỗ lực lựa chọn cuộc sống như một bài ca vui cho 
 bản thân và những người xung quanh...
 Hướng dẫn chấm:
 - Học sinh trả lời được 4 ý: 1,0 điểm;
 - Học sinh trả lời được 3 ý: 0,75 điểm;
 - Học sinh trả lời được 2 ý: 0,5 điểm; Học sinh trả lời được 1 ý: 0,25 điểm.
 Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của câu thơ Một cuộc đời - một bài ca 
 0,5
 duy nhất với những cách diễn đạt khác nhau, sau đây là một vài gợi ý:
 - Cần thấy được: khi ta được sinh ra, được sống trong cuộc đời đã là một hạnh phúc 
 lớn lao. Mỗi người chỉ có "Một cuộc đời - một bài ca duy nhất" nên hãy sống có ý 
 nghĩa và lan tỏa tình yêu thương
 4 0,25
 - Hãy thực sự trân trọng cuộc sống của bản thân để bài ca yêu đời luôn âm vang 
 trong cuộc sống.
 Hướng dẫn chấm:
 - Học sinh nêu đúng 2 nội dung trở lên: 0,5 điểm;
 0,25
 - Học sinh nêu đúng 1 nội dung: 0,25 điểm. LÀM VĂN 7,0
 Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức 
 1 2,0
 mạnh của tình yêu thương trước những thách thức của cuộc sống hôm nay.
 a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
 Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, 0,25
 móc xích hoặc song hành
 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
 0,25
 Sự cần thiết của lối sống chủ động và tích cực
 c. Triển khai vấn đề nghị
 Thí sinh có thể trình bày suy nghĩ theo nhiều cách, nhưng cần đảm bảo ngắn gọn, 
 đúng trọng tâm vấn đề nghị luận. Dưới đây là một số gợi ý về nội dung:
 - Sự chủ động, tích cực trong cuộc sống là thái độ cần có của con người. Đó là cách 
 sống có ý nghĩa với mỗi cá nhân và cộng đồng.
 Phân tích một số biểu hiện của lối sống chủ động và tích cực. Từ đó thấy được con 
 người cần có nghị lực để chủ động sống tốt, với trí tuệ sáng và tình cảm ấm áp, 
 luôn lạc quan hướng đến tương lai.
 - Nêu được trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay cần rèn luyện để trở thành những 
 con người năng động, luôn chủ động, mạnh mẽ và có trách nhiệm. Phê phán thái độ 
 sống thụ động, bi quan, ích kỷ, lười biếng,... 1,0
 Hướng dẫn chấm:
II - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp; kết 
 hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng (0,75 đến 1,0 điểm).
 - Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng nhưng không có dẫn 
 chứng hoặc dẫn chứng không tiêu biểu (0,5 điểm).
 - Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không liên quan 
 mật thiết đến vấn đề nghị luận, không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không phù 
 hợp (0,25 điểm).
 Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với 
 chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
 d. Chính tả, ngữ pháp
 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
 0,25
 Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ 
 pháp.
 e. Sáng tạo
 0,25
 - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
 Phân tích vẻ đẹp của sông Hương trong đoạn trích sau; từ đó, nhận xét nét 
 độc đáo trong cái nhìn của tác giả về thiên nhiên đất nước.
 2 a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,25
 Mở bài nêu được vấn đề; Thân bài triển khai được vấn đề; Kết bài khái quát được 
 vấn đề.

File đính kèm:

  • docxbo_5_de_thi_thu_thpt_quoc_gia_mon_ngu_van_so_gddt_ha_noi_202.docx