Bộ 5 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Văn Đà Nẵng 2022-2026 (kèm đáp án)
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ 5 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Văn Đà Nẵng 2022-2026 (kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 5 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Văn Đà Nẵng 2022-2026 (kèm đáp án)
hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này. Mặt sông rung tít lên như tuyếc-bin thủy điện nơi đáy hầm đập. Mặt sông trắng xóa càng làm bật rõ lên những hòn những tảng mới trông tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá to đá bé. Nhưng hình như sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn. Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, nhưng chính là hai đứa giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa, vào tận tuyến giữa rồi nước sóng luồng mới đánh khuýp quật vu hồi lại. Nếu lọt vào đây rồi mà cái thuyền du kích ấy vẫn chọc thủng được tuyến hai, thì nhiệm vụ của những boong- ke chìm và pháo đài đá nổi ở tuyến ba là phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt thuyền trưởng cùng tất cả thủy thủ ngay ở chân thác. Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới. Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt. Một hòn ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến. Một hòn khác lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. .. (Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân) Cảm nhận của anh/ chị vẻ đẹp hình tượng sông Đà ở đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân. ĐÁP ÁN Phần Câu/Ý Nội dung Điểm I Đọc hiểu 3.0 1 Theo tác giả, vấn đề ta thường thấy là: có người tốt nhiều, người tốt 0.5 ít, người xấu nhiều, người xấu ít hoặc người này bản chất là tốt hay người kia bản chất là xấu. 2 -Học sinh chỉ ra và nêu tác dụng 01 trong 02 biện pháp tu từ trong câu: "Ai 0.5 cũng có một vầng trăng và một đám mây đen". a. Biện pháp tu từ: ẩn dụ: “vầng trăng”- mặt tốt của con người, “mây đen”- mặt xấu của con người. b. Phép đối: “vầng trăng” đối lập với “mây đen”. - Tác dụng: giúp cho lời diễn đạt trở nên sinh động, gợi hình, gợi cảm, cụ thể, ấn tượng hơn. Đồng thời nhấn mạnh vào tính tốt xấu của con người, qua đó thể hiện cái nhìn toàn diện khi đánh giá con người của người viết. 3 Việc xóa dần màu xám xịt của đám mây đen có tác dụng : 1.0 - Giúp con người tìm thấy điểm yếu của bản thân và cải thiện chúng nhằm đem lại cho mình sức mạnh thay đổi nhiều khía cạnh của cuộc sống; giải quyết các vấn đề một cách dễ dàng hơn và con người sẽ nhận ra rằng, dù khó khăn thế nào thì vẫn sẽ có cách để thành công. - Giúp con người vượt ra khỏi vùng an toàn của bản thân để làm những điều chưa bao giờ dám nghĩ. Thay vì luôn e sợ và quẩn quanh với những điều quen thuộc thì giờ đây, con người có thể suy nghĩ đến những cảnh tượng mới mẻ hơn và tốt đẹp hơn. 4 Lời khuyên về người tốt và người xấu của tác giả gợi suy nghĩ : 1.0 - Học sinh tóm lược lại lời khuyên về người tốt và người xấu của tác giả thể hiện trong văn bản: Người tốt cũng có lúc mắc sai lầm biến thành người xấu; còn người xấu nếu tìm hiểu kĩ, họ vẫn có không ít điều hay lẽ phải với những nét hấp dẫn; - Nêu suy nghĩ bản thân: Khi đã thành người tốt, càng phải giữ vững và phát huy những điều tốt đẹp, không rơi vào tự cao, tự mãn. Khi lỡ làm điều sai lầm, rơi vào cái xấu, cần phải tìm cách sửa chữa cái sai kịp thời, đừng nên tự ti, mặc cảm tội lỗi. II Làm văn 1 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn 2.0 khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ ý nghĩa của việc phát triển bản thân trong cuộc sống. a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ 0.25 Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - 0.25 phân-hợp, song hành hoặc móc xích. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận về một vấn đề xã hội: ý nghĩa của việc phát triển bản thân trong cuộc sống. c. Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị 1.00 luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ ý nghĩa của việc phát triển bản thân trong cuộc sống. Có thể triển khai theo hướng sau: - Giải thích: phát triển bản thân là: hoạt động liên quan đến học hỏi, tìm tòi nâng cao kiến thức, hình ảnh của bản thân, từ đó con người sẽ phát triển tài năng, tích lũy tri thức cho sự nghiệp trong cuộc sống. - Ý nghĩa của việc phát triển bản thân: + Phát triển bản thân tạo cho con người sự bền bỉ, gắng sức học tập và tu dưỡng phẩm chất, trau dồi kĩ năng, lối sống nhằm hoàn thiện bản thân mình để vươn tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống. + Phát triển bản thân giúp con người trở nên năng nổ, cần cù,sáng tạo trong công việc, đạt được nhiều thành tựu và còn tạo cho họ nhiều cơ hội trong cuộc sống. + Phát triển bản thân tạo nên sức mạnh tinh thần để chiến thắng chính mình, thay cái xấu thành cái tốt. + Người luôn phát triển bản thân sẽ tạo ra được nhiều mối quan hệ chất lượng, truyền cảm hứng, lan tỏa được những thông điệp tích cực trong cuộc sống, được mọi người ngưỡng mộ, tín nhiệm và yêu quý. + Người luôn phát triển bản thân sẽ được cấp trên chú ý và giao phó những công việc quan trọng. + Người luôn phát triển bản thân sẽ tạo ra được nhiều giá trị vật chất và tinh thần, từ đó đời sống của bản thân và gia đình được nâng cao. - Bài học nhận thức và hành động. + Mỗi người cần có nhận thức đúng đắn về việc phát triển bản thân trong cuộc sống là rất cần thiết, nhằm khẳng định vị trí của mình trong xã hội. + Mỗi người cần có hành động đúng đắn: sống là hành động, phấn đấu không ngừng nghỉ để biến ước mơ, hoài bão thành hiện thực. d. Sáng tạo 0,25 Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. 0,25 2 Cảm nhận của anh/ chị vẻ đẹp hình tượng sông Đà ở đoạn trích. Từ đó, 5,0 nhận xét phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân. 1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận về một đoạn văn xuôi ( có ý phụ) (0,25) Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề. 2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25) Hình tượng sông Đà ở đoạn trích; phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân. 3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận (4.00) sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Cụ thể: 3.1.Mở bài: 0.25 - Nguyễn Tuân là nhà văn tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam. - Tuỳ bút Người lái đò sông Đà là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám 1945. -Vẻ đẹp dòng sông Đà thể hiện rõ phong cách tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân. 3.2.Thân bài: 3.50 a. Khái quát về tuỳ bút, đoạn trích: 0.25 đ - Về hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, nội dung, nghệ thuật của tác phẩm; - Vị trí, nội dung đoạn trích. b. Cảm nhận vẻ đẹp của sông Đà trong đoạn trích: 2.5đ - Về nội dung: (2.0đ) +Nước thác trên Sông Đà: Nguyễn Tuân đã buộc sự dữ dội, nham hiểm của sông Đà phải hiện lên thành hình và gào thét bằng trăm ngàn âm thanh. Sự liên tưởng của tác giả độc đáo ở chỗ: âm thanh của tự nhiên (tiếng thác) được đổi thành tiếng gầm đau đớn, lồng lộn của hàng ngàn con trâu mộng da cháy bùng bùng; và còn tài tình ở chỗ tác giả đã đem thủy (thác nước) so sánh với hỏa (rừng lửa). Sức mạnh hoang dã của tự nhiên qua tài đối sánh, qua trí tưởng tượng phong phú, độc lạ của Nguyễn Tuân đã gây ấn tượng trong người đọc về sự dữ dội, y như một trận động rừng hay cháy rừng khủng khiếp của nước thác trên sông Đà. + Thạch trận trên Sông Đà: ++Đội quân thạch giang trên Sông Đà khá hùng hậu, cả một chân trời đá, ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông. ++Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, mỗi hòn đá như có một gương mặt riêng: hòn thì ngổ ngáo, hiếu chiến (mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền), hòn thì ngỗ ngược, hòn thì nhăn nhúm méo mó; mỗi hòn một dáng (nó đứng nó ngồi nó nằm tùy theo sở thích tự động của đá to đá bé); mỗi hòn một nhiệm vụ (đám tảng đám hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông; hai hòn canh một cửa đá trông như là sơ hở, (...) giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa; những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi (...) phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác.). ++Để khắc họa từng gương mặt riêng của đá thác Sông Đà, tưởng như Nguyễn Tuân đã phải lao động cật lực, khổ công quan sát và tung ra trường từ vựng hết sức giàu có, phong phú về hành động (nhổm cả dậy, vồ lấy, chặn ngang, dụ, đánh khuýp quật vu hồi, đánh tan, tiêu diệt), tính cách (ngỗ ngược), hình sắc (nhăn nhúm, méo mó, to, bé), tư thế (đứng, ngồi, nằm). +Sự phối hợp rất chặt chẽ giữa nước thác và đá thác trên sông: ++Từ xa, tiếng nước thác réo gần mãi lại réo to mãi lên, rồi rống lên vừa như phô trương sức mạnh vừa như uy hiếp, đe dọa con thuyền sắp qua thác nước Sông Đà. ++Sau đó, đến thác, một chân trời đá hiện hình và bày thạch trận trên sông. Đội quân thạch giang đủ loại lớn bé, đủ tư thế ngồi, nằm, đứng nhưng hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó và hiếu chiến. Mỗi hòn đá đều nhận đúng vị trí: Đám đá tảng thì chia làm ba hàng chặn ngang trên sông; hàng tiền vệ có hai hòn canh cửa; ở tuyến ba là những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi. Với mỗi vị trí là một nhiệm vụ: Đám đá tảng sẽ ăn chết cái thuyền đơn độc; hai hòn đá canh ở hàng tiền vệ sẽ dụ cái thuyền đi vào sâu nữa; những boong-ke chìm và pháo đài đá nổi phải đánh tan cái thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân thác. Nhiệm vụ nào của đám thạch giang trên Sông Đà cũng hung hãn, quyết liệt, cũng thể hiện một quyết tâm tiêu diệt con thuyền đối phương đến cùng để giành chiến thắng. + Nhận xét: Đoạn trích là khúc ca ca ngợi vẻ đẹp hung bạo, hùng vĩ của sông Đà. Đó chính là sức mạnh của thiên nhiên mà con người cần chinh phục. Đó cũng chính là niềm tự hào của tác giả về Tổ quốc hùng vĩ, giàu đẹp. - Về nghệ thuật: ( 0.5) +Nguyễn Tuân đã dùng hết bút lực để dường như thi tài với tạo hoá. Ông dùng những câu góc cạnh, giàu tính tạo hình, những câu nhiều động từ mạnh nối tiếp nhau, dồn dập; +Nhà văn sử dụng lối nói ví von, ẩn dụ, tượng trưng, liên tưởng đầy bất ngờ, chính xác, thú vị. +Nhà văn đã vận dụng hiểu biết của nhiều ngành khác nhau: địa lý, lịch sử, hội họa, văn chương và những tri thức về tự nhiên để khắc họa vẻ đẹp của sông Đà. c. Nhận xét phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân. 0.75đ - Biểu hiện phong cách tài hoa, uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân: Ông không chấp nhận sự sáo mòn. Ông luôn tìm kiếm những cách thức thể hiện, những đối tượng mới mẻ. Nhà văn luôn tiếp cận sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mĩ, có ấn tượng với những sự vật gây cảm giác mạnh (Sông Đà là một sinh thể như vậy). Tác giả bộc lộ sự tinh vi trong mĩ cảm với trường liên tưởng phong phú, ngôn ngữ vừa phong phú vừa tinh tế.Một cái tôi uyên bác khi huy động mọi kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để khắc họa hình tượng sông Đà. - Ý nghĩa: Qua phong cách tài hoa, uyên bác, Nguyễn Tuân là là nhà văn có ý thức tự khẳng định cá tính độc đáo của mình. Chứng tỏ ông là người có một lòng yêu quê hương đất nước tha thiết, một cuộc đời lao động nghệ thuật khổ hạnh, một trí thức tâm huyết với nghề. Người đọc yêu hơn, trân trọng hơn phẩm chất, cốt cách của con người đáng quý này. 3.3.Kết bài: 0.25 - Kết luận về nội dung, nghệ thuật vẻ đẹp hình tượng con sông Đà; - Nêu cảm nghĩ về vẻ đẹp thiên nhiên và đóng góp của nhà văn cách mạng Nguyễn Tuân 4. Sáng tạo ( 0,25) Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận. 5. Chính tả, dùng từ, đặt câu ( 0,25) Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu ĐỀ SỐ 5 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2023 ĐÀ NẴNG MÔN: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: Đã có nhiều tranh luận xung quanh tác động của Al trong tương lai gần, về những mặt hữu ích cũng như tiêu cực của nó với cuộc sống và nghề nghiệp. Là người cha, điều làm tôi suy nghĩ nhiều nhất, là làm thế nào định hướng cho con cách thích ứng, tồn tại, và phát triển cùng AI, trong cả hai kịch bản: một chuyên gia trong ngành, hay một người ngoài ngành nhưng biết tận dụng sức mạnh của AI trong cuộc sống. []AI có thể trở thành kẻ thống trị, hay chỉ là một công cụ hữu ích, phụ thuộc vào kỹ năng và thái độ của mỗi người. Tôi tin rằng, kỹ năng đặt câu hỏi và tư duy phản biện sẽ là nền tảng để mỗi cá nhẫn vững tâm đồng hành cùng AI. Và đây cũng là điều tôi khuyến khích các con theo đuổi. Khi đang viết bài này, tôi được tham gia một webinar với bạn bè của con trai tôi - những du học sinh THPT ở Phần Lan. Trả lời câu hỏi của tôi về sự khác biệt giữa cách học trong nước và Phần Lan, Doãn Đinh - học sinh lớp 10 trường Kurikka - lấy ví dụ "học lịch sử, tụi con chỉ được thầy giao trình chiếu 3 slide, mỗi slide không quá 5 gạch đầu dòng. Con sẽ phải đọc cả một cuốn sách để tự tổng hợp thông tin và tìm ra câu trả lời". Thy Nguyễn - học sinh lớp 12 tại trường Mantta nói: "Thầy của con luôn mở đầu bằng lời khuyên: sẽ không có câu trả lời nào tuyệt đối đúng, tuyệt đối sai. Hãy tự tìm câu trả lời của các bạn". Từng trải qua quãng thời gian dài làm việc và đào tạo với văn hóa Âu Mỹ, tôi không ngạc nhiên với những cách học này của các con, nơi mỗi cá nhân là duy nhất, và được khuyến khích có tư duy, bản sắc cá nhân riêng biệt. Tôi tin rằng, cách khuyến khích mỗi người tự học, tự đặt câu hỏi để thỏa trí tò mò, và biết suy nghĩ phản biện sẽ là những kỹ năng cơ bản, cần thiết nhất để không trở thành kẻ bị dắt mũi trong biển kiến thức khổng lồ đầy rẫy thông tin sai trái và định kiến mà AI mang lại. (Nguồn: https://vnexpress.net/khon-dai-voi-ai-Bài đăng ngày 12/3/2022.) Câu 1 (NB). Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích. Câu 2 (TH). Xung quanh những tác động của AI đối với cuộc sống và nghề nghiệp, điều khiến tác giả băn khoăn, suy nghĩ nhiều nhất là gì? Câu 3 (TH). Anh/chị hiểu như thế nào về nhận định sau của tác giả: “AI có thể trở thành kẻ thống trị, hay chỉ là một công cụ hữu ích, phụ thuộc vào kỹ năng và thái độ của mỗi người”. Câu 4 (VD). Anh/chị có đồng tình với quan niệm: “Kỹ năng đặt câu hỏi và tư duy phản biện sẽ là nền tảng để mỗi cá nhân vững tâm đồng hành cùng AI”? Vì sao? II. LÀM VĂN Câu 1. (VDC) Từ văn bản phần Đọc - hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) để trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào để người trẻ có thể thích ứng, tồn tại và phát triển trong thời đại trí tuệ nhân tạo lên ngôi? Câu 2. (VDC) Trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân đã viết về vẻ đẹp con sông Đà với rất nhiều cảm nhận độc đáo: Con Sông Đà gợi cảm. Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách. Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân. Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng. Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà, xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy. Tôi nhìn cái miếng sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt hả Dương Châu”. Bờ Sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bướm bướm trên Sông Đà. Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đẩy, rồi chốc lại bắn tinh và gắt gỏng thác lũ ngay đấy. Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Li, đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đàn cả dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt bThuyền tôi trôi trên “Dải Sông Đà bọt nước lênh bênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên. (Trích Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân, SGK Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2019, tr.191) Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp hình tượng Sông Đà trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về cái Tôi của nhà văn Nguyễn Tuân được thể hiện trong văn bản. ĐÁP ÁN I. ĐỌC HIỂU Câu 1 Phương pháp: Vận dụng kiến thức đã học về các phương thức biểu đạt. Cách giải: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận. Câu 2 Phương pháp: Đọc, tìm ý. Cách giải: Điều khiến tác giả băn khoăn, suy nghĩ nhiều nhất là làm thế nào định hướng cho con cách thích ứng, tồn tại, và phát triển cùng AI, trong cả hai kịch bản: một chuyên gia trong ngành, hay một người ngoài ngành nhưng biết tận dụng sức mạnh của AI trong cuộc sống. Câu 3 Phương pháp: Phân tích, lý giải, tổng hợp. Cách giải: Học sinh trình theo quan điểm cá nhân, chú ý có ý giải. Gợi ý: - Kỹ năng và thái độ của con người là rất quan trọng. Nó quyết định đến việc chúng ta có thực sự sử dụng được AI như một công cụ phục vụ cho con người hay không. - Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện kĩ năng và cải thiện độ của con người trong thời đại AI ngày càng phát triển rộng rãi. Câu 4 Phương pháp: Phân tích, lý giải, tổng hợp. Cách giải: Học sinh trình bày quan điểm của cá nhận, có lý giải hợp lý. Gợi ý: - Đồng tình với quan niệm trên. - Lý giải: Kỹ năng đặt câu hỏi và tư duy phản biện là một trong những điểm khác nhau giữa trí tuệ con người và trí tuệ nhân tạo. Rèn luyện tốt điều này chúng ta sẽ vững vàng, có khả năng làm chủ trong xã hội có sự phát triển của AI. II. LÀM VĂN Câu 1: Phương pháp: - Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng). - Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,) để tạo lập một văn bản nghị luận xã hội. Cách giải: Yêu cầu hình thức: - Viết đúng một đoạn văn nghị luận xã hội theo cấu trúc. - Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. Yêu cầu nội dung: * Nêu vấn đề: Làm thế nào để người trẻ có thể thích ứng, tồn tại và phát triển trong thời đại trí tuệ nhân tạo lên ngôi? * Bàn luận: Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ một số ý nghĩa cơ bản của việc tuổi trẻ chuẩn bị hành trang cho tương lai. Có thể triển khai theo hướng: - Hiện trạng trí tuệ nhân tạo ngày nay: AI ngày càng phát triển, tối tân và hiện đại. AI có thể thay con người làm một số công việc từ đơn giản đến phức tạp. Việc phát triển của AI tạo ra những thuận lợi và cũng gây ra không ít thách thức. Làm sao để người trẻ có thể thích ứng, tồn tại và phát triển trong thời đại trí tuệ nhân tạo lên ngôi? - Người trẻ chú trọng việc trau dồi kỹ năng sống và kỹ năng giao tiếp. Kỹ năng sống, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp chính là một điểm khiến chúng ta khác biệt so với phần mềm trí tuệ nhân tạo. Giới hạn về biểu cảm, cảm xúc của con người là điều AI không thể làm được. - Người trẻ cố gắng học tập, tìm hiểu thật rõ về trí tuệ nhân tạo. Muốn thích ứng, tồn tại và làm chủ về AI trước hết chúng ta cần phải hiểu về AI. - Cố gắng phát huy sự sáng tạo của bản thân – điều mà AI không làm được. * Kết đoạn: Bài học nhận thức và hành động. Học sinh chú ý đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho mỗi luận điểm của mình. Câu 2: Phương pháp: - Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng). - Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,) để tạo lập một văn bản nghị luận văn học. Cách giải: Yêu cầu hình thức: - Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản. - Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. Yêu cầu nội dung: I. Giới thiệu chung - Nguyễn Tuân là nhà văn tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam. Phong cách độc đáo, tài hoa và uyên bác. - Người lái đò sông Đà là tác phẩm được trích trong tập Tùy bút sông Đà là kết quả của chuyến đi thực tế của tác giả lên vùng Tây Bắc. Tại đây ông đã phát hiện ra vẻ đẹp của thiên nhiên cùng chất vàng mười trong tâm hồn của người dân nơi đây. - Khái quát luận đề: Cảm nhận của anh/chị về đoạn trích trên; từ đó nhận xét cái tôi Nguyễn Tuân. II. Phân tích 1. Cảm nhận về nội dung.
File đính kèm:
bo_5_de_thi_thu_thpt_quoc_gia_mon_toan_da_nang_2022_2026_kem.docx

