14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án)
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: 14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án)
14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án) - Lợi ích khi bỏ được thói quen lạm dụng mạng xã hội Facebook: + Tăng cường sự tập trung và năng suất công việc. + Cải thiện các mối quan hệ thực tế. + Cải thiện sức khỏe tinh thần, thể chất. + Phát triển sở thích cá nhân, khám phá thế giới ngoài thực tế để phát triển bản thân. Kết bài: Khái quát lại vấn đề nghị luận. Hướng dẫn chấm: - Triển khai đầy đủ sâu sắc, có sự kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng, có suy nghĩ riêng, sáng tạo: 2,0 – 2,5 điểm. - Các bước triển khai chưa đầy đủ hoặc chưa sâu: 1,25 điểm – 1,75 điểm. - Các bước triển khai chung chung, sơ sài: 0,75 điểm - 1,0 điểm d. Diễn đạt 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt 0,5 mới mẻ. Tổng điểm 10,0 DeThiHay.net 14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án) ĐỀ SỐ 5 ĐỀ THI ÔN HÈ MÔN NGỮ VĂN LỚP 10 LÊN LỚP 11 Điểm Lời phê của thầy cô giáo I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc đoạn trích sau: (Lược phần đầu: Nông trường Hồng Cúm (Điện Biên) đang vào mùa thu hoạch lạc. Chị Đào đang lao động hăng say. Nhìn nụ cười của Huân – chàng trai trẻ trung, yêu đời - bạn cùng nông trường mà chị ước như không bao giờ có cuộc đời đã qua; mà chỉ có lúc này, một nữ công nhân trên nông trường, một người có quyền được hưởng hạnh phúc như mọi người con gái may mắn khác. Hiện tại càng khiến chị nhớ lại quãng đời trước đây của mình.) Lấy chồng từ năm mười bẩy tuổi, nhưng chồng cờ bạc, nợ nần nhiều nên bỏ đi Nam đến đầu năm 1950 mới trở về quê. Ăn ở với nhau được đứa con trai lên hai thì chồng chết. Cách mấy tháng sau đứa con lên sài bỏ đi để chị ở một mình. Từ ngày ấy chị không có gia đình nữa, đòn gánh trên vai, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường, khi ra Hòn Gai, Cẩm Phả lấy muồng, khi ngược Lào Cai buôn gà, vịt, mùa tu hú kêu sang đất Hà Nam buôn vải, tháng sáu lại về quê bẻ nhãn. Khi thì ở chợ Cuối Chắm, ở đò Tràng Thưa, khi lại về phố Rỗ, chợ Bì, chợ Bưởi. Mùa hè vài cái áo cánh nâu vá vai, mùa đông một chiếc áo bông đã bạc, ngày mưa, ngày nắng, bàn chân đã từng đi khắp mọi nơi không dừng lại một buổi nào.Cũng có ngày đau ốm, nằm nhờ nhà người quen, bưng bát cơm nóng, nhìn ngọn đèn dầu lại sực nhớ tới trước đây mình cũng có một gia đình, có một đứa con, sớm lo việc sớm, tối lo việc tối. Còn bây giờ bốn bể là nhà, chỉ lo cho bản thân mình sao được cơm ngày hai bữa, chân cứng đá mềmMuốn chết nhưng đời còn dài nên phải sống. (Lược một đoạn: Đào lên nông trường Điện Biên, ban đầu chỉ coi nơi đây như một chốn tạm dừng chân. Cuộc sống lao động nhộn nhịp, tấm chân tình của những con người lao động đã làm dấy lên khát vọng sống ở chị. Chị cảm nhận rõ rệt sự thay đổi của chính mình). Quê hương thứ nhất của chị ở đất Hưng Yên, quê hương thứ hai của chị ở nông trường Hồng Cúm, hạnh phúc mà chị đã mất đi từ bảy, tám năm nay ai ngờ chị lại tìm thấy ở một nơi mà chiến tranh đã xảy ra ác liệt nhất Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy. Đầu thu với những hơi gió mát dịu bay lướt lên những khóm lá xanh thẫm của cây cỏ nghệ, những cụm ké đồng tiền, những nụ hoa trắng của cây rau tàu bay, và những bông hoa rền tía đỏ thắm hình tháp bút. Mùa thu hoạch lạc đã vào chặng cuối. Những vệt đường mờ ngổn ngang những bụi cỏ bị nhổ đã héo rễ kéo về khu máy tuốt. Đào và Huân phụ trách một cáng. Cái đầu bịt chiếc khăn kẻ ô vuông nhọn hoắt của chị thấp thoáng sau những đống lạc chất cao. Hai bàn tay to và đen choàng lấy từng ôm chuyển lên cáng. Mồ hôi chảy từng giọt dài lên gò má nham nhở vết đất, những thớ thịt như căng ra xé rách mảng áo nâu mỏng mặc ngoài. Lúc nào chị cũng có cái dáng vừa thoăn thoắt vừa lững thững. Huân chạy ra trước cáng, anh quàng đoạn dây máy bằng vải bạt qua vai, cúi rạp xuống, chiếc quần ướt đẫm mồ hôi căng theo DeThiHay.net 14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án) thớ thịt, khuôn lấy cặp đùi rất tròn của anh, hai bàn tay đỏ tía bám chắc lấy đầu cáng và anh nhấc bổng người lên, chiếc cáng nhẹ bẫng lao về phía trước, Đào chạy lắc lư ở phía sau, chị kêu to lên: - Ông mãnh ơi, đi ngắn bước chứ! Gió vẫn thổi rào rạt khắp cánh bãi. Huân vừa bước những bước dài, vừa nói to: - Gió mát quá nhỉ. Thế là năm nay ở đất Điện Biên không có gió Lào! Cái đầu nhọn hoắt của Đào vẫn đưa sang phải, sang trái, chị đắng hắng rồi hát véo von ở phía sau: ... Tháng giêng phay phảy gió may Tháng hai gió bấc, tháng ba gió nồm Tháng tư là gió dâng lên Gió đóng cửa đền, gió động năm cung, [] (Trích Mùa lạc- Truyện ngắn Nguyễn Khải, NXB Văn học 2013, tr.61) * Chú thích: Nguyễn Khải là một trong những gương mặt nổi bật của thế hệ nhà văn trưởng thành sau Cách mạng Tháng tám. Sáng tác của Nguyễn Khải thể hiện sự nhạy bén và cách khám phá riêng của nhà văn về các vấn đề xã hội. Truyện “Mùa lạc” viết năm 1960, là một truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Khải viết về đề tài cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1: Xác định dấu hiệu hình thức cho biết ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích trên. Câu 2: Tìm những chi tiết về cuộc đời bất hạnh của nhân vật Đào trước khi lên nông trường Điện Biên. Câu 3: Đề tài của đoạn trích là gì? Anh/ chị có nhận xét gì về thái độ, tình cảm của nhà văn qua đề tài đó? Câu 4: Nêu hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong những câu văn sau: Đầu thu với những hơi gió mát dịu bay lướt lên những khóm lá xanh thẫm của cây cỏ nghệ, những cụm ké đồng tiền, những nụ hoa trắng của cây rau tàu bay, và những bông hoa rền tía đỏ thắm hình tháp bút. Mùa thu hoạch lạc đã vào chặng cuối. Câu 5: Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ, ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy. Anh/chị có đồng tình với quan điểm, suy nghĩ của người kể chuyện qua câu văn trên không? Vì sao? II. PHẦN VIẾT (6.0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp nhân vật chị Đào được thể hiện trong đoạn trích phần Đọc hiểu. Câu 2 (4.0 điểm) Trong cuộc sống, con người luôn mong muốn có được sự hạnh phúc. Bàn về vấn đề này, B.Russell cho rằng: Có bốn điều quan trọng cho hạnh phúc: Thứ nhất là sức khỏe. Thứ hai là không thiếu thốn. Thứ ba, quan hệ tốt với mọi người. Thứ tư, sự thành công trong công việc. Từ gợi dẫn trên, anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến về những việc tuổi trẻ cần làm để có được hạnh phúc mỗi ngày. .HẾT. - Thí sinh không được sử dụng tài liệu - Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. DeThiHay.net 14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án) ĐÁP ÁN Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 4,0 - Ngôi kể thứ 3 - Dấu hiệu để xác định: Người kể chuyện không xuất hiện trong câu chuyện. Hoặc người kể chuyện giấu mình/ ẩn danh. Hướng dẫn chấm: 1 0,5 - Học sinh trả lời chính xác dấu hiệu để chỉ ra ngôi kể thứ 3: 0,5 điểm. - Học sinh xác định đúng dấu hiệu nhưng không chỉ ra ngôi kể thứ ba: 0.25 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: 0,0 điểm - Những chi tiết về cuộc đời bất hạnh của nhân vật Đào trước khi lên nông trường Điện Biên: Lấy chồng từ năm mười bẩy tuổi, nhưng chồng cờ bạc, nợ nần nhiều. Ăn ở với nhau được đứa con trai lên hai thì chồng chết. Cách mấy tháng sau đứa con lên sài bỏ đi để chị ở một mình. Từ ngày ấy chị không có 2 gia đình nữa, đòn gánh trên vai, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường. 0,5 Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời chính xác như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm. - Học sinh chỉ nêu được 02 chi tiết: 0.25 điểm - Học sinh trả lời sai: 0,0 điểm. - Đề tài của đoạn trích: Số phận bất hạnh của người phụ nữ. - Thái độ và tình cảm của tác giả được thể hiện qua đề tài: Thể hiện niềm cảm thông, sự thấu hiểu với cuộc đời, số phận bất hạnh của người phụ nữ như nhân vật Đào. Đồng thời tác giả còn ca ngợi sức sống mạnh mẽ của người lao động, sự hồi sinh của họ sau mất mát, chến tranh và khẳng định sự lạc quan, niềm tin 3 vào tương lai. 1,0 Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đủ 2 ý như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm. - Học sinh trả lời được 1 trong 2 ý trên hoặc trả lời được cả 2 ý nhưng diễn đạt không mạch lạc: 0,5 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: 0,0 điểm. - Các hình ảnh liệt kê qua các câu văn: hơi gió mát dịu bay lướt lên những khóm lá xanh thẫm của cây cỏ nghệ, những cụm ké đồng tiền, những nụ hoa trắng của cây rau tàu bay, và những bông hoa rền tía đỏ thắm hình tháp bút. 4 - Hiệu quả: 1,0 + Nhằm miêu tả rõ hơn sự hồi sinh của cảnh vật trên mảnh đất Điện Biên cũng như cuộc sống con người vào lúc đầu thu. Cả thiên nhiên và con người đều bừng lên sức sống mới. DeThiHay.net 14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án) + Tăng tính hàm súc, cô đọng trong diễn đạt, làm cho câu văn mang giá trị biểu đạt, gợi hình ảnh cao và có những liên tưởng sâu sắc. Hướng dẫn chấm: - Học sinh chỉ ra được các ý như đáp án: 1.0 điểm. - Học sinh chỉ ra được 1 ý hoặc nêu chung chung: 0,5 điểm - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: 0,0 điểm - HS bày tỏ quan điểm: Đồng tình với quan điểm, suy nghĩ của người kể chuyện. - Lí giải + Cuộc sống không bao giờ có "con đường cùng" mà chỉ có"ranh giới" mà chúng ta tự đặt ra. Nếu chúng ta đủ sức mạnh, dũng khí thì bất kể khó khăn nào cũng sẽ vượt qua những ranh giới này: Sự sống có thể nảy sinh được từ cái chết; hạnh phúc vẫn hiện hình từ những hi sinh. + Đây là lời khuyên chính xác và có ý nghĩa sâu sắc: Mỗi chúng ta phải luôn 1,0 5 cố gắng, tự vượt qua ranh giới của chính bản thân mình và vượt qua mọi thách thức của cuộc sống để đạt được niềm vui, sự hạnh phúc. Hướng dẫn chấm: - HS bày tỏ quan điểm: 0.25 - HS nêu suy nghĩ, lí giải phù hợp: 0.75 - HS có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục hoặc diễn đạt ý tương đương đều cho điểm tối đa II VIẾT 6,0 Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp nhân vật chị Đào ở đoạn 2,0 trích của phần Đọc hiểu. a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn - Hình thức: một đoạn văn, thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. - Dung lượng: khoảng 200 chữ 0,25 Hướng dẫn chấm: - Đảm bảo cả hai yêu cầu trên (hình thức là 1 đoạn văn, dung lượng từ 150 đến 250 chữ): 0,25 điểm. 1 - Không đảm bảo 1 trong 2 yêu cầu trên: 0,0 điểm. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: phân tích vẻ đẹp nhân vật chị Đào 0,25 c.Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: * Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận; trình bày rõ quan điểm và hệ thống ý; lập luận chặt chẽ, thuyết phục (lí lẽ xác đáng; biết phân tích các dẫn chứng trong văn bản để làm sáng tỏ cho lập luận). 1,0 * Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận. - Chị Đào là hiện thân của người phụ nữ có cuộc đời, số phận nghèo khổ và phải chịu nhiều bất hạnh. - Song chị hiện lên trong đoạn trích với những vẻ đẹp: DeThiHay.net 14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án) + Dù phải trải qua nhiều khổ đau, bất hạnh là thế nhưng chị chưa từng buông xuôi cuộc đời mình. Chị vẫn kiên cường, mạnh mẽ, vẫn miệt mài bươn chải, chăm chỉ lao động để nuôi sống bản thân. + Chị tìm đến nông trường Điện Biên, hăng say lao động, hòa đồng cùng mọi người; thấu hiểu cuộc sống nên chị có sức sống tiềm tàng mãnh liệt, có tình yêu cuộc sống và niềm tin mãnh liệt vào tương lai; có khao khát, hy vọng về một cuộc sống hạnh phúc, được yêu thương, đùm bọc. - Bằng việc xây dựng được tình huống truyện đặc biệt kết hợp với các sự việc, chi tiết tiêu biểu nhà văn đã khắc họa thành công cuộc đời và số phận nhân vật chị Đào. Đồng thời qua nhân vật, Nguyễn Khải vừa cảm thông, thấu hiểu với cuộc đời, số phận của nhân vật vừa khẳng định và ca ngợi sức sống mạnh mẽ của con người với sự lạc quan và niềm tin ở phía trước. Hướng dẫn chấm: - Học sinh triển khai được hệ thống ý để phân tích một cách sâu sắc vẻ đẹp của nhân vật, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng từ đoạn trích; đánh giá được ý nghĩa xây dựng nhân vật của nhà văn: 1,0 điểm - Học sinh triển khai được hệ thống ý để phân tích được một số yếu tố, khía cạnh cuộc đời, số phận của nhân vật, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng từ đoạn trích: 0,75 điểm. - Học sinh triển khai được hệ thống ý để phân tích được một số biểu hiện vẻ đẹp của nhân vật, chưa trích dẫn được dẫn chứng tiêu biểu từ đoạn trích; chưa đánh giá được ý nghĩa xây dựng nhân vật: 0,5 điểm - Học sinh chưa biết triển khai ý, viết lan man: 0,25 điểm d. Diễn đạt 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm với những bài viết sai nhiều lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp, liên kết e. Sáng tạo 0,25 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: Học sinh đạt được một trong hai yêu cầu trên: 0,25 điểm 2 Trong cuộc sống, con người luôn mong muốn có được sự hạnh phúc. Bàn 4,0 về vấn đề này, B.Russell cho rằng: Có bốn điều quan trọng cho hạnh phúc: Thứ nhất là sức khỏe. Thứ hai là không thiếu thốn. Thứ ba, quan hệ tốt với mọi người. Thứ tư, sự thành công trong công việc. Từ gợi dẫn trên, anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ ý kiến về những việc tuổi trẻ cần làm để có được hạnh phúc mỗi ngày. DeThiHay.net 14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án) a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội 0,25 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Những việc tuổi trẻ cần làm để có được 0,5 hạnh phúc mỗi ngày c. Viết bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu sau: 2,5 * Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận; trình bày rõ quan điểm và hệ thống ý; lập luận chặt chẽ, thuyết phục (lí lẽ xác đáng; biết phân tích các dẫn chứng trong văn bản để làm sáng tỏ cho lập luận). * Đề xuất được hệ thống ý phù hợp, sắp xếp các ý theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận: Giới thiệu vấn đề nghị luận: những việc tuổi trẻ cần làm để có được hạnh phúc mỗi ngày. Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau, có thể đưa ra nhiều góc nhìn, nhiều cách giải quyết vấn đề không giống như đáp án tuy nhiên cần có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm bảo được các ý cơ bản sau: - Giải thích: + Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người, là lúc ta thấy vui sướng, thỏa mãn khi đạt được một điều gì đó. + Ai trong chúng ta cũng đều có quyền được hạnh phúc và có thể tự tạo được hạnh phúc cho bản thân. - Bàn luận: + Khi chúng ta cảm thấy hạnh phúc, cuộc sống trở nên tươi đẹp hơn, tâm hồn và tinh thần cũng thấy thư thái, an nhiên hơn. Khi có được hạnh phúc trong cuộc sống, chúng ta cũng cảm thấy tự tin, luôn lạc quan, sẵn sàng yêu thương và tôn trọng mọi thứ xung quanh. + Tuổi trẻ cần làm gì để có được hạnh phúc mỗi ngày? / Biết hài lòng, trân trọng với thực tại của cuộc sống; biết đặt ra mục tiêu, kế hoạch và ước mơ trong cuộc sống để định hình hướng đi, tạo động lực để cố gắng và phấn đấu cho cuộc sống bản thân tốt đẹp hơn. / Có lối sống chan hòa, yêu thương luôn sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ để mang lại hạnh phúc cho bản thân và cho những người mình quý mến. / Có tinh thần lạc quan, niềm tin, ý chí hướng đến những giá trị tích cực trong cuộc sống. / Biết cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân để tự tạo ra hạnh phúc cho bản thân. - Mở rộng vấn đề + Hạnh phúc không có gì to tát, không ở đâu xa và chúng ta cũng không cần phải luôn tìm kiếm những điều lớn lao để hạnh phúc, mà có thể tìm thấy niềm vui trong những điều nhỏ bé xung quanh. DeThiHay.net 14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án) + Cần phê phán những bạn trẻ không có niềm tin vào cuộc sống, không biết tìm kiếm giá trị đích thực để cuộc sống bản thân trở nên có ý nghĩa và hạnh phúc. - Bài học nhận thức và hành động + Tuổi trẻ hãy nhận thức tầm quan trọng và lan tỏa giá trị của hạnh phúc đến với mọi người để cuộc sống thực sự nhân ái hơn. + Hạnh phúc do con người tạo ra, chính vì thế nếu muốn có hạnh phúc, bản thân bạn phải hành động không ngừng nghỉ để có được nó. Kết thúc vấn đề: - Khái quát lại vấn đề Hướng dẫn chấm: - Xác định đúng vấn đề nghị luận; triển khai rành mạch các luận điểm để làm sáng tỏ vấn đề, lập luận chặt chẽ, kết hợp lí lẽ và dẫn chứng, đề xuất được những việc làm khả thi về vấn đề bàn luận, có mở rộng, trao đổi với ý kiến trái chiều: 2,25-2,5 điểm. - Xác định đúng vấn đề nghị luận; triển khai được các luận điểm để làm sáng tỏ vấn đề, lập luận tương đối chặt chẽ, có dẫn chứng nhưng chưa thật tiêu biểu, đề xuất được những giải pháp vấn đề bàn luận, có mở rộng, trao đổi: 1,5 -2,0 điểm. - Xác định đúng vấn đề nghị luận; triển khai được luận điểm để làm sáng tỏ vấn đề, lập luận chưa chặt chẽ, có dẫn chứng nhưng chưa tiêu biểu, chưa đề xuất được những việc làm khả thi về vấn đề bàn luận, chưa có mở rộng, trao đổi: 1,0-1,25 điểm. - Xác định vấn đề nghị luận chưa rõ, bài làm sơ sài, lí lẽ và dẫn chứng thiếu thuyết phục, chưa đề xuất được những việc cần làm và chưa có mở rộng, trao đổi: 0,25-0,75 điểm - Không làm bài hoặc lạc đề hoàn toàn: 0,0 điểm d. Diễn đạt 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu và liên kết văn bản. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm với những bài viết sai nhiều lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp, liên kết e. Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: Học sinh đạt được một trong hai yêu cầu trên: 0,25 điểm Tổng điểm 10,0 DeThiHay.net 14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án) ĐỀ SỐ 6 ĐỀ THI ÔN HÈ MÔN NGỮ VĂN LỚP 10 LÊN LỚP 11 Điểm Lời phê của thầy cô giáo I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Đồng dao của đất (1)Tôi ngửi thấy mùi quê hương trong ... không gian (4)Tôi gặp quê trong mùa trảy hội Ngai ngái rạ rơm Bồng bềnh quan họ ngọt ngào lời ru Nồng hương lúa mới Những câu đồng dao ngấm vào hạt lúa Dọc theo nỗi nhớ Thổi thành no ấm Bài đồng dao gọi bước chân về... Nồi cơm Thạch Sanh gọi bầy trẻ lớn lên Những hoàng hôn cong cánh diều bay (2)... Là lời kể của Bà đau đáu hồn quê Ngất ngưởng lưng trâu sáo diều cao vút Ngày xưa tháng ba ngày tám Quên lũ khoai nhông nhốc ngủ trên đồng... Những đôi chân lấm bùn vào lam lũ Những đôi vai gánh oằn mưa nắng; (5)Đổ bên trời kỷ niệm chảy dòng sông Tơi bời rụng xuống Hội làng rộn ràng bến đợi Dường như hoa gạo bớt đỏ Nỗi nhớ cất lời: Người ơi, người ở... Chuồn chuồn thót bụng bay Phù sa thời gian nở ra... (3)Bầy sáo tan tác dáng chiều 1997 tức tưởi... (Vi Thuỳ Linh, Khát, NXB Phụ nữ, 2007) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu xác định nhân vật trữ tình của bài thơ. Câu 2. Liệt kê các từ hoặc cụm từ chỉ ý niệm thời gian được nhắc tới trong bài thơ trên. Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp điệp từ trong những dòng thơ sau: Những đôi chân lấm bùn vào lam lũ Những đôi vai gánh oằn mưa nắng; Câu 4. Nhận xét về hình thức của khổ thơ: Bầy sáo tan tác dáng chiều tức tưởi... Câu 5. Từ nội dung bài thơ trên, anh/chị rút ra thông điệp sâu sắc nào? DeThiHay.net 14 Đề ôn luyện hè Ngữ văn từ Lớp 10 lên 11 (Có đáp án) II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận khoảng (200 chữ) phân tích hình tượng quê hương qua cảm nhận của nhân vật trữ tình trong bài thơ Đồng dao của đất – Vi Thùy Linh ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm) Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: Yêu những điều giản dị. Chú thích: Vi Thùy Linh sinh ngày 4/4/1980 tại Hà Nội, là một nhà thơ nữ của Việt Nam. Tuy là thế hệ nhà thơ trẻ, nhưng Vi Thùy Linh đã nhanh chóng trở thành một "hiện tượng" trong nền thi ca Việt Nam đương đại. Tác phẩm tiêu biểu: Khát (1999); Linh (2000); Đồng Tử (2005); ViLi in love (2008); Chu du cùng Ông nội (2011); ViLi và Paris (2012)Thơ Vi Thùy Linh thể hiện cách nhìn độc đáo về đời sống, về tình yêu, mang đậm tính nữ. Thể thơ tự do với kiểu ngắt dòng ngắn dài không đều nhau chính là phương tiện đắc dụng hàm tải ý tưởng có phần mới lạ và mang hơi hướng triết học của thơ Vi Thùy Linh. -------------Hết------------ DeThiHay.net
File đính kèm:
14_de_on_luyen_he_ngu_van_tu_lop_10_len_11_co_dap_an.docx

