11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử)
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: 11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử)
11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử) - DeThiHay.net Câu Nội dung Điểm a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn. - Mở đoạn giới thiệu văn bản, tác giả, nêu ấn tượng chung về văn bản; thân đoạn nêu cảm nghĩ về một số nét nổi bật trong nội dung và nghệ thuật của hai khổ thơ; kết đoạn khái 0,25 quát được cảm nghĩ về đoạn thơ. - Đoạn văn cần đảm bảo dung lượng 200 chữ. b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Cảm nghĩ về đoạn trích trong bài thơ “Mùa thu cho 0,25 con”. c. Triển khai vấn đề nghị luận: HS có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng cần bám sát ngữ liệu; nêu được các lí lẽ, bằng chứng để lí giải. Đảm bảo các yêu cầu sau: * Giới thiệu nhan đề - tác giả - giới hạn đoạn thơ - nêu cảm nghĩ chung * Cảm nghĩ về nội dung của đoạn thơ: - Trân trọng, xúc động trước tình cảm của cha mẹ gửi gắm qua những lời dặn đầy tin yêu: + Tình yêu thương thấm trong những lời tâm tình, nhắn nhủ khi con bắt đầu một năm học mới, cha mẹ khích lệ con vững tin, tự hào về bản thân, nỗ lực hết mình để theo đuổi ước mơ, hoài bão trong cuộc đời. + Trao gửi cho con bài học quý giá về ý nghĩa của lòng nhân ái, sẻ chia, bao dung giữa 1 cuộc sống bộn bề lo toan. + Tình yêu, niềm tin, kì vọng của cha mẹ là hành trang theo con trong suốt hành trình dài của cuộc đời. 1,0 * Cảm nghĩ về đặc sắc nghệ thuật làm nên sức hấp dẫn của đoạn thơ. - Thể thơ tám chữ linh hoạt về vần nhịp góp phần thể hiện cảm xúc chủ đạo của đoạn thơ. - Giọng điệu thơ chân thành, tha thiết. - Ngôn ngữ, hình ảnh thơ vừa gần gũi, giản dị, vừa mang ý nghĩa biểu tượng như: đôi chân kiêu hãnh, con tim mang ánh lửa tự hào, tuổi trẻ tươi hồngđã góp phần truyền tải một cách đầy đủ, thấm thía những ước mong của cha mẹ muốn gửi gắm tới con cái của mình. - Sử dụng kết hợp nhiều biện pháp tu từ đặc sắc: điệp ngữ, ẩn dụ - Khái quát cảm nghĩ về đoạn thơ. (Trong quá trình nêu cảm nghĩ, học sinh cần bám sát đặc sắc nghệ thuật. Nếu diễn xuôi, giáo viên cho tối đa 0,5 điểm) d. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. 0,25 e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; lập luận chặt chẽ, thuyết 0,25 phục; có cách diễn đạt mới mẻ. a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,5 Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. 2 b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Cách làm chủ công nghệ. 0,5 c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm 2,0 DeThiHay.net 11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử) - DeThiHay.net HS có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau: 1. Mở bài - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Cách làm chủ công nghệ trong thời đại kĩ thuật số. - Sự cần thiết phải bàn luận vấn đề. 2. Thân bài * Giải thích: - Làm chủ công nghệ là biết áp dụng kiến thức khoa học và kỹ thuật để giải quyết các vấn đề hoặc cải tiến phương pháp học tập, làm việc. Điều này bao gồm việc biết sử dụng thuần thục các công cụ, máy móc, kỹ thuật và kỹ năng để đạt được kết quả mong muốn. Trong nhiều trường hợp, làm chủ công nghệ còn là biết sử dụng công nghệ một cách thông minh, hiệu quả, có chọn lọc; không bị lệ thuộc, không để công nghệ chi phối tư duy, cảm xúc và lối sống. * Bàn luận về vấn đề: (Học sinh phối hợp lí lẽ và dẫn chứng) - Ý nghĩa của việc làm chủ công nghệ: + Bắt kịp với xu thế phát triển của thời đại, phát huy tối đa lợi ích của công nghệ + Làm chủ công nghệ giúp người trẻ rèn luyện tư duy sáng tạo, nâng cao hiệu suất làm việc và học tập; giữ được cân bằng giữa “thế giới số” và “đời sống thực”... + Góp phần xây dựng xã hội trở nên văn minh, tiến bộ - Lạm dụng công nghệ để giải bài tập, “đánh bóng” bản thân, * Nguyên nhân: - Do sức hút mạnh mẽ của công nghệ, thiếu định hướng từ gia đình - Chính các bạn trẻ: lười tư duy, ngại giao tiếp xã hội.. * Hậu quả: - Nghiện mạng xã hội, các trò chơi trực tuyến, sống ảo, ít giao tiếp thực tế, suy nghĩ lệch lạc * Thực trạng các bạn trẻ ngày càng thiếu tự chủ, bị phụ thuộc vào công nghệ: - Dành nhiều thời gian sử dụng các thiết bị * Nêu được ý kiến trái chiều và phản bác bằng lí lẽ: - Tuyệt đối hoá vai trò của công nghệ, trí tuệ nhân tạo dẫn đến trì trệ, ngại tư duy sáng tạo... - Phủ nhận vai trò của công nghệ thì con người tự mất đi lợi thế, cơ hội học tập và nâng cao hiệu quả học tập, làm việc. * Giải pháp làm chủ công nghệ: - Cá nhân - chính các bạn trẻ: + Nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ đối với sự phát triển của bản thân và xã hội, tự biết điều chỉnh thời gian sử dụng thiết bị công nghệ... + Tích cực học tập, rèn luyện về mọi mặt, nhất là về năng lực để có thể áp dụng được trong học tập và công việc, giúp tạo lập tương lai tốt đẹp cho mình và góp phần phát triển đất nước. DeThiHay.net 11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử) - DeThiHay.net + Thống nhất, cân bằng giữa sáng tạo cá nhân và sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo - Gia đình, nhà trường: + Khuyến khích con học tập, sử dụng công nghệ đúng cách. + Tạo lập không gian để các bạn trẻ được kết nối, phát triển kĩ năng mềm, tham gia hoạt động ngoại tuyến (HS lấy dẫn chứng) 3. Kết bài - Rút ra ý nghĩa của vấn đề, bài học cho bản thân. Trên đây chỉ là những gợi ý, HS có cách lập luận riêng, hợp lí, sáng tạo vẫn cho điểm tối đa. d. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. 0,25 e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách lập luận, diễn đạt 0,25 mới mẻ. DeThiHay.net 11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử) - DeThiHay.net ĐỀ SỐ 5 UBND PHƯỜNG NGỌC HÀ ĐỀ THI THỬ TUYỂN SINH LỚP 10 THPT TRƯỜNG THCS HOÀNG HOA THÁM NĂM HỌC 2026 - 2027 MÔN: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 90 phút I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm) Đọc ngữ liệu và trả lời các câu hỏi dưới đây: ĐỒNG HÀO CÓ MA (Nguyễn Công Hoan) (Lược một đoạn: nhân vật huyện Hinh trạc ngoại tứ tuần, béo đến nỗi lỗ chân lông căng ra, râu không có chỗ lách ra ngoài được). Buổi hầu sáng hôm ấy. Con mẹ Nuôi, tay cầm lá đơn, đứng ở sân công đường. Nó hớt hơ hớt hải qua cổng chòi, rồi sợ sệt bỡ ngỡ, không biết quan ngồi buồng nào. Bỗng một người mặc áo cánh nái nhuộm vỏ già chạy xồng xộc đến trước mặt nó, và hỏi: - Đi đâu? Con mẹ biết ngay rằng đó là cậu lính lệ. Và như hiểu rõ phép vào quan, nó giúi đưa cậu lệ hai hào đã cầm sẵn ở trong tay, rồi nói nhỏ: - Nhờ cậu bẩm quan cho tôi vào hầu. Cậu lệ tuy đã cầm tiền, nhưng làm như ta không để ý đến việc nhỏ nhen ấy, bèn vừa thò tay, vừa nói to: - Đưa xem đơn, việc gì? Rồi trong khi nhà Nuôi kể lể, thì cậu lệ đánh vần để đọc lá đơn. Đoạn cậu lắc đầu, nhăn mặt bảo: - Vào kia, nhờ bác nho Quý bác ấy làm hộ cho. Đơn này không được. Con mẹ tái mặt, hỏi: - Không được thế nào, thưa cậu? Cậu lệ giơ hai tay ra giảng: - Nghĩa là nếu nhà chị muốn việc chóng xong, nghe chưa? - Thưa cậu, cậu cứ vào trình quan hộ. Chả nói giấu gì cậu, nhà tôi bị mất trộm hết sạch cả đồ đạc lẫn tiền nong. Sáng nay, vay mãi mới được một đồng hai hào, để đi trình quan, cậu làm ơn thương hộ cho. [...] Bỗng một tiếng chuông gọi. Cậu lệ dạ giật một tiếng, rồi ù té chạy. Con mẹ Nuôi nhìn theo, biết rằng buồng quan ngồi ở chỗ ấy. Nó đánh liều tiến đến, vừa tiến, vừa lo. Nó bước chân lên thềm, trống ngực bắt đầu nổi mạnh. Nó đã trông thấy quan. Nó lại sợ nữa. Vì lo sợ quá, nên quên đứt rằng chính nó đi trình việc mất trộm. Nó lại tưởng như nó là đứa trộm vậy. Nó rón rén, đứng nép vào cạnh cửa, thập thò, ghé vào trong, và lắng tai nghe. Nó thấy quan đang dặn cậu lệ xuống bảo nhà bếp ninh cho thật dừ cái chân giò. [...] Bỗng hai con gà tây béo sù quàng quạc kêu ở sân trước. Nó thốt giật nảy mình. Quan đang ngồi, choàng một cái, ngài đứng dậy, chạy vội ra hiên, đứng ngay cạnh nhà Nuôi, và gọi váng: - Có đứa nào đấy, lừa hai con gà vào cho tao! DeThiHay.net 11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử) - DeThiHay.net Tức thì, người ta chạy tán loạn để xua gà, và nhà Nuôi thì chắp hai tay, quỳ ngay xuống gạch, và nâng ngang đầu cái lá đơn. Khi đôi gà đã chạy về, quan bèn nhìn con mẹ và bảo: - Vào đây. Nó mừng quá, lóp ngóp đứng dậy, vội vã theo vào trong buồng giấy. Nó đứng ở cạnh bàn, run lên bần bật. Nó liếc nhìn quan. Ngài oai vệ quá. Nó lại sợ hơn nữa. Nhưng dù run hay sợ, nó cũng không quên được việc vi thiềng (1) quan. Nhưng tiền trình diện quan, nó lại buộc vào trong dải yếm. Nó cởi ra mới lấy được. Nó mới lúi húi rút cái nút buộc ra. Nó sợ quan chờ lâu, nên phải vội vàng. Mà vì vội vàng, lại lo quan gắt, nên nó lóng ngóng. Cái nút vừa xổ ra, thì loảng xoảng, cả món tiền rơi tiệt cả xuống gạch. Năm đồng hào đôi nảy lên mấy cái, và từng ấy tiếng kêu làm nó giật mình. Tự nhiên, nó choáng cả người và hoa cả mắt. Nó cúi nhìn chỗ nhiều hào rơi nhất, ngay bên cạnh nó. Đồng thì chui nằm ẹp gần chân nó, đồng thì xoay tít mấy vòng, đồng thì bắn ra góc buồng. Mấy đồng nữa thì thi nhau lăn ra tận chỗ xa. Nó không thấy quan nói gì, nên cũng hơi tĩnh tâm. Nó bèn cúi xuống để nhặt tiền. Một đồng, hai đồng. Đồng thứ ba nghiêng ở mé tường. Nó tìm đồng thứ tư. Mãi nó mới thấy ở tận gần chân bàn giấy của quan. Nó tìm đồng thứ năm. Quái, nó tìm mãi, mà không thấy đâu cả. Nó phải có năm hào đôi. Năm hào đôi mới thành một đồng bạc được. Vừa ban nãy, nó giơ ra cho cậu lệ xem, và lại buộc cẩn thận vào dải yếm. Không lẽ đồng hào ấy có ma, đã biến đi đâu mất chóng thế được. Vậy chỉ quanh quẩn ở trong buồng này mà thôi. Nhưng nó đã tìm kỹ lắm rồi. Mà trình đơn tám hào, tất nó bị quan chửi. Không biết làm thế nào được, nó tần ngần chắp hai tay, vái: - Lạy quan lớn ạ. Rồi nó lùi lùi bước ra cửa. Rồi nó đi về... Ông huyện Hinh cứ ngồi yên sau bàn giấy để nhìn theo con mẹ khốn nạn. Rồi khi thấy nó đã đi khuất, ông mới đưa mắt xuống chân, dịch chiếc giầy ra một tý. Và vẫn tự nhiên như không, ông cúi xuống thò tay, nhặt đồng hào đôi sáng loáng, thổi những hạt cát nhỏ ở đế giầy bám vào, rồi bỏ tọt vào túi. (Nguồn: Nguyễn Công Hoan Toàn tập. NXB Văn học, 2004.) Chú thích: (1) Vi thiềng: chỉ lễ vật ít ỏi mang đến biếu kẻ bề trên. Câu 1 (0,5 điểm): Truyện Đồng hào có ma diễn ra trong bối cảnh (không gian, thời gian) nào? Câu 2 (1,5 điểm): Nhân vật con mẹ Nuôi rơi vào hoàn cảnh như thế nào khi đến công đường? Người đọc biết được hoàn cảnh ấy qua lời kể của ai? Câu 3 (1,5 điểm): Ghi lại chi tiết kể về thái độ và hành động của quan huyện Hinh từ khi nhìn thấy nhân vật con mẹ Nuôi làm rơi tiền cho đến khi nó ra về. Qua đó, em hiểu gì về bản chất của nhân vật này? Câu 4 (0,5 điểm): Em hãy chỉ rõ và gọi tên thành phần biệt lập trong câu văn sau: “Thưa cậu, cậu cứ vào trình quan hộ.” Câu 5 (1,0 điểm): Qua truyện Đồng hào có ma, em rút ra những bài học gì cho bản thân khi gặp khó khăn hoặc khi phải đối diện với những tình huống không công bằng trong cuộc sống? Ghi lại 03 bài học mà em tâm đắc nhất. II. VIẾT (5,0 điểm) DeThiHay.net 11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử) - DeThiHay.net Em hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của lối sống giản dị. DeThiHay.net 11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử) - DeThiHay.net HƯỚNG DẪN CHẤM I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm) Câu 1 (0,5 điểm): - Bối cảnh không gian: Tại sân công đường và buồng giấy (phòng làm việc) của quan huyện Hinh. - Bối cảnh thời gian: Một buổi hầu sáng. Câu 2 (1,5 điểm): - Hoàn cảnh của mẹ Nuôi: Gia đình vừa bị trộm sạch sành sanh đồ đạc và tiền nong. Phải đi vay mượn mãi mới được một đồng hai hào để đi trình quan (trong đó hai hào đưa cho lính lệ, một đồng định để "vi thiềng" quan). Tâm trạng vô cùng sợ hãi, lo lắng, bỡ ngỡ khi đến chốn công đường. - Người kể chuyện: Người đọc biết được hoàn cảnh này qua lời kể của người kể chuyện ngôi thứ ba (người kể chuyện ẩn mình, gọi tên các nhân vật) và qua chính lời đối thoại của nhân vật mẹ Nuôi với cậu lệ. Câu 3 (1,5 điểm): - Chi tiết về thái độ và hành động của quan huyện Hinh: + Khi mẹ Nuôi làm rơi tiền: Quan ngồi yên sau bàn giấy nhìn theo, không nói gì khiến người khốn khổ tưởng quan không để ý. + Khi mẹ Nuôi đi khuất: Ông mới đưa mắt xuống chân, dịch chiếc giày ra một tí. + Hành động cuối cùng: Vẫn tự nhiên như không, cúi xuống nhặt đồng hào đôi, thổi cát ở đế giày bám vào rồi "bỏ tọt vào túi". - Bản chất của nhân vật: Qua đó, nhân vật quan huyện hiện lên là một kẻ tham lam, đê tiện và vô liêm sỉ. Dù là người thực thi pháp luật nhưng lại lợi dụng chức vụ để chiếm đoạt cả đồng tiền lẻ cuối cùng của người dân nghèo đang gặp nạn. Câu 4 (0,5 điểm): - Thành phần biệt lập: "Thưa cậu". - Tên thành phần: Thành phần gọi - đáp. Câu 5 (1,0 điểm): (Học sinh có thể rút ra các bài học khác nhau, dưới đây là 03 gợi ý) - Sự bình tĩnh: Khi gặp sự cố (như rơi tiền), cần giữ bình tĩnh để xử lý tình huống, tránh vì quá sợ hãi mà dẫn đến tổn thất. - Sự tỉnh táo và cẩn trọng: Không nên quá tin tưởng vào sự uy nghiêm hào nhoáng bên ngoài của những kẻ có quyền lực khi bản thân đang ở thế yếu. - Lòng tự trọng và chính nghĩa: Bài học về việc nhận diện cái xấu, cái ác trong xã hội để giữ gìn nhân cách, không tham lam những thứ không thuộc về mình như cách quan huyện đã làm. II. VIẾT (5,0 điểm) Dàn ý tham khảo: Ý nghĩa của lối sống giản dị 1. Mở bài: Dẫn dắt và nêu vấn đề cần nghị luận: Lối sống giản dị là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người. 2. Thân bài: * Giải thích: Giản dị là sống phù hợp với hoàn cảnh, không cầu kỳ, phô trương, lãng phí (trong cách ăn mặc, giao tiếp, sinh hoạt). DeThiHay.net 11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử) - DeThiHay.net * Ý nghĩa/Vai trò của lối sống giản dị: - Đối với bản thân: Giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc; tâm hồn thanh thản, không bị áp lực bởi vật chất. - Đối với xã hội: Tạo nên sự gần gũi, hòa đồng, xóa bỏ khoảng cách giữa người với người; xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh. * Chứng minh: Nêu gương lối sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh hoặc một cá nhân tiêu biểu. * Phản đề: Phê phán lối sống đua đòi, xa hoa, lãng phí hoặc những người sống cẩu thả, xuề xòa quá mức rồi ngộ nhận là giản dị. 3. Kết bài: - Khẳng định lại giá trị của lối sống giản dị. - Liên hệ bản thân: Cần rèn luyện đức tính giản dị từ những việc nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày. DeThiHay.net 11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử) - DeThiHay.net ĐỀ SỐ 6 TRƯỜNG THCS LÊ NGỌC HÂN ĐỀ THI THỬ TUYỂN SINH LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2026 - 2027 MÔN: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 90 phút (Không kể thời gian phát đề) I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc văn bản sau: NHỚ MẸ VÀ LÀNG QUAN HỌ (Trương Nam Hương) Nghe quan họ đêm rằm anh bật khóc Lời chênh vênh uốn lượn mái chùa Vịn câu hát anh lần về cội gốc Chợt thấy mình có lỗi với làng xưa... Bao mưa nắng đời anh chưa hiểu hết Giờ xót xa thương mẹ nhớ làng Mẹ cho của hồi môn là câu hát Để con rời quê kiểng có hành trang Mẹ thường bảo làng ta giàu cổ tích Có bà tiên ông bụt giúp người Nhưng mẹ vẫn một đời áo rách Cố giữ lành câu quan họ thôi Người để lại chiếc khăn hoa lí Em nhớ cho đời mẹ xưa nghèo, Vẫn thơm thảo mùi hương quả thị Với câu thề quán dốc trăng treo Giờ biết lấy cớ gì anh dối mẹ Quan họ quên... rơi dọc tháng ngày Sợi tóc rụng như lá vườn lặng lẽ Mẹ không còn và mắt anh cay! (In trong “Mẹ yêu thương”, Thơ dâng Mẹ của những nhà thơ nổi tiếng, NXB Kim Đồng, 2008, T23-24) Chú thích: Trương Nam Hương sinh năm 1963 tại Huế. Sáng tác tiêu biểu: “Khúc hát người xa xứ”, “Hè phố tuổi thơ”,” Ngoảnh lại tháng năm”... Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1 (1.0 điểm). Văn bản trên được viết theo thể thơ nào? Trong đoạn thơ, hình ảnh nào thể hiện sự gắn kết giữa nhân vật “anh” với “làng xưa”? DeThiHay.net 11 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh vào 10 Hà Nội 2026 môn Văn (Thi Thử) - DeThiHay.net Câu 2 (1.5 điểm). Nhân vật “anh” nhắc đến mẹ và làng qua những chi tiết đặc trưng nào? Hãy phân tích tác dụng của một chi tiết mà em ấn tượng nhất. (viết khoảng từ 5 - 7 dòng) Câu 3 (0.5 điểm). Từ “rơi” trong câu thơ “Quan họ quên ...rơi dọc tháng ngày” được hiểu như thế nào? Câu 4 (1.0 điểm). Vì sao trong đoạn thơ, nhân vật “anh” lại thấy “có lỗi với làng xưa” khi nghe câu hát quan họ? Qua đó giúp ta cảm nhận được điều gì về nhân vật “anh”? II. PHẦN VIẾT (6.0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích tâm trạng của nhân vật “anh” trong các khổ thơ (I), (II) và (V) trong đoạn trích ở phần Đọc – hiểu. Câu 2 (4.0 điểm). Có ý kiến cho rằng:“Những giá trị văn hóa truyền thống là mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và bản sắc cho mỗi người dân Việt Nam, đồng thời có vai trò quan trọng trong việc gợi nhớ và duy trì tình cảm gia đình, quê hương trong xã hội hiện đại”. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay, không ít bạn trẻ thờ ơ và dần lãng quên những giá trị đẹp đẽ ấy. Từ nội dung được gợi ra từ phần Đọc – hiểu và những trải nghiệm cá nhân của bản thân, em hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) để trả lời câu hỏi: Thế hệ trẻ cần làm gì để giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc? DeThiHay.net
File đính kèm:
11_de_thi_va_dap_an_ky_tuyen_sinh_vao_10_ha_noi_2026_mon_van.docx

