Bộ 6 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Cà Mau 2021-2026 (Có đáp án)

docx 32 trang Hứa Cường 31/05/2026 50
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ 6 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Cà Mau 2021-2026 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 6 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Cà Mau 2021-2026 (Có đáp án)

Bộ 6 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Cà Mau 2021-2026 (Có đáp án)
 Phân tích vẻ đẹp của người lái đò qua đoạn trích trên; từ đó, nhận xét mối quan hệ giữa con người 
với thiên nhiên. HƯỚNG DẪN CHẤM
 Câu Điể̀m
Phần Nội dung
 /Ý
 I Đọc hiểu 3.0
 1 Thể thơ: Tự do 0.5
 2 Những câu thơ miêu tả sự quan trọng của con cái đối với cha mẹ được thể hiện 
 trong đoạn trích: 
 0.5
 Là mùa đầu cánh đồng Mẹ tôi sinh nở 
 Là cơn gió của đại ngàn Cha
 3 * Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo được 
 những ý cơ bản sau: 
 - Nhân vật tôi đã thay đổi cảm xúc: từ dửng dưng, thản nhiên trước lời 
 nói, những ý kiến của người xung quanh nhưng lại buồn bã, thất vọng 
 1.0
 trước suy nghĩ của cha về mình. 
 - Sự thay đổi ấy cho thấy nhân vật tôi là một người chín chắn, trưởng 
 thành, có những suy nghĩ sâu sắc nhưng cũng rất giàu tình cảm, mong 
 muốn nhận được sự thấu hiểu, tôn trọng từ những người yêu thương.
 4 Thái độ của tác giả: 
 - Chân thành nhưng dứt khoát, mong muốn được tự quyết định cuộc đời mình. 0.5
 - Chấp nhận dấn thân, độc lập trong tư duy và hành động. Đó cũng là lời khuyên 
 hướng đến mọi người. 0.5
 Lưu ý: Giám khảo linh hoạt cho điểm, không áp đặt học sinh. Chỉ cho điểm tối 
 đa khi học sinh trình bày thuyết phục, lập luận chặt chẽ, phù hợp với chuẩn mực 
 đạo đức, pháp luật.
 II Làm văn 7.0
 1 Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết 
 2.0
 phải sống cuộc đời của chính mình.
 a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn:
 Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng-phân- 0.25
 hợp, móc xích hoặc song hành.
 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 
 0.25
 Sự cần thiết phải sống cuộc đời của chính mình.
 c. Triển khai vấn đề nghị luận: 
 Thí sinh có thể lựa chọn thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận 
 theo nhiều cách nhưng phải làm rõ sự cần thiết phải sống cuộc đời của chính 
 mình. Có thể triển khai theo hướng: 1.0
 - Sống cuộc đời của chính mình là sống cho mình mà không phụ thuộc vào bất cứ 
 người nào khác. 
 - Sống cuộc đời của chính mình giúp ta được thỏa mãn những đam mê, khát vọng; được khẳng định năng lực bản thân, tạo ra những giá trị riêng biệt, được người 
 khác tôn trọng. 
 - Cần có bản lĩnh để đối diện và vượt qua những khó khăn, những sự chỉ trích, 
 những ánh mắt thiếu thiện cảm. 
 - Sống cuộc đời chính mình không phải là sống dị biệt, tách mình ra khỏi cộng 
 đồng.
 d. Sáng tạo: 
 0.25
 Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
 e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: 
 0.25
 Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
2 Phân tích vẻ đẹp của người lái đò qua đoạn trích; từ đó, nhận xét mối 
 5.0
 quan hệ giữa con người với thiên nhiên.
 a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận:
 Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được 0.25
 vấn đề.
 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích vẻ đẹp của người lái đò qua đoạn 
 0.5
 trích; từ đó, nhận xét mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên.
 c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: 
 Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác 
 lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu cơ bản 
 sau:
 * Khái quát tác giả, tác phẩm và đoạn trích. 0.5
 * Vẻ đẹp ông lái đò qua đoạn trích. 1.5
 - Vẻ đẹp trí dũng: 
 + Một dũng tướng giữa trùng vây thác đá sông Đà: luôn bình tĩnh, tự tin, chủ động 
 và chiến thắng. 
 + Am hiểu, thuộc lòng từng luồng, lạch, những trùng vi thạch trận, những cửa 
 sinh, cửa tử dọc con sông Đà từ đó chèo lái con thuyền vượt thác an toàn. 
 ⟹ Ông lái đò chính là chất vàng mười của thiên nhiên Tây Bắc đã qua thử lửa. 0.5
 - Vẻ đẹp tài hoa: Trong trận chiến với thác đá sông Đà, ông lái là minh chứng 
 cho tay lái ra hoa, là nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật vượt thác qua ghềnh; là 
 người yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống lao động trên sông nước. 
 * Nghệ thuật: Khắc họa hình tượng ông lái đò bằng việc sử dụng nhiều so sánh, 
 liên tưởng; ngôn ngữ điêu luyện, tài tình; vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực, 
 * Nhận xét mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên: 1,0
 Thiên nhiên không chỉ là hoàn cảnh, điều kiện sinh sống khắc nghiệt mà còn là 
 nền tảng để con người khẳng định sức mạnh thể chất và tinh thần trong công cuộc 
 chinh phục; thiên nhiên còn là chất men làm con người rung động với những vẻ 
 đẹp, hăng say lao động.
 d. Chính tả, ngữ pháp: 0.25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
đ. Sáng tạo: 
 0.5
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
TỔNG ĐỂM 10.0 ĐỀ SỐ 5
 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2022
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
 MÔN: NGỮ VĂN
 CÀ MAU
 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích: 
 Cỏ vốn thấp 
 thấp nhất các loài cây 
 nên chân thường dẫm đạp
 Rồi tới ngày chân tự hỏi 
 cỏ là gì khi nhìn đỉnh núi 
 nơi chân chưa từng (và có thể chẳng bao giờ chạm tới) 
 cỏ đã xanh ngạo nghễ ngàn đời
 Và chân nhớ tới những cuộc tiễn đưa 
 người thân, sơ, bạn bè, và cả nhũng sơ sài về đất 
 theo cách thông thường hay trang trọng nhất 
 cỏ lại lặng lẽ xanh đắp ấm những kiếp người
 (Trích Cỏ - Hữu Việt, vanvn.vn)
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ nào?
Câu 2. Trong đoạn trích, "cỏ" có những đặc điểm gì?
Câu 3. Anh/chị hiểu thế nào về lẽ sống của con người qua hình ảnh "cỏ" trong đoạn trích?
Câu 4. Nhận xét về thái độ của tác giả thể hiện qua đoạn trích.
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
 Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày 
suy nghĩ về lời khuyên: Con người phải biết sống bao dung.
Câu 2. (5.0 điểm)
 Gần sáng trời trở gió đột ngột, từng tảng mây đen xếp ngổn ngang trên mặt biển đen ngòm, và biển 
bắt đầu gào thét, sóng bạc đầu ngoài cửa lạch nổi cồn lên, cao như những ngọn núi tuyết trắng.
 Trong phá, các thứ tàu thuyền đều tìm vào bờ để trú, duy ở giữa phá chẳng hiểu vì sao vẫn còn thấy 
một chiếc thuyền vó bè đang đậu.
 Gió rú ào ào chung quanh chiếc xe Reo vưa mới ở trên rừng xuống, chưa dỡ gỗ xuống hết. Cái ông 
lão đã ngoài sáu mươi mà vẫn còn theo đuổi nghề sơn tràng đang ngồi bên bếp lửa giữa trời, vẫn đặt hai 
con mắt đầy vẻ lo lắng ra ngoài mặt phá, nơi có chiếc thuyền.
 Cái bếp lửa cũng bị gió ném tung ra khắp bãi cát, những tàn lửa đỏ rực bay quẩn lên chung quanh 
chỗ tôi và ông lão ngồi. Tôi xem lại xoong cơm đã sống nhăn hộ ông lão đoạn gào lên:
 - Chiều gió này không khéo bão cấp 11 rồi ? - Ư, ư...! - Ông lão lẩm bẩm, vẫn không rời mắt khỏi chiếc thuyền đang chống chọi với sóng gió 
giữa phá.
 Những tấm ảnh tôi mang về, đã được chọn lấy một tấm. Trưởng phòng rất bằng lòng về tôi.
 Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn được treo ở 
nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm 
kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng 
hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một 
người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa 
thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn 
chân giậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông...
 (Trích Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập 2,
 NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 77-78)
Phân tích đoạn trích trên. Từ đọ, nhận xét về thông điệp cuộc sống và nghệ thuật mà nhà văn Nguyễn Minh 
Châu đã gửi gắm. HƯỚNG DẪN CHẤM
 Câu
Phần Nội dung Điể̀m
 /Ý
 I Đọc hiểu 3.0
 1 Thể thơ: Tự do. 0.5
 2 Trong đoạn trích, “cỏ” có những đặc điểm: thấp nhất các loài cây, xanh ngạo 
 0.5
 nghễ, lặng lẽ xanh.
 3 Học sinh bày tỏ ý kiến cá nhân sao cho hợp lí, thuyết phục. Có thể tham khảo: 
 Lẽ sống của con người qua hình ảnh “cỏ” trong đoạn trích: âm thầm, bao 1.0
 dung, nghị lực, sẻ chia với mọi người
 4 Thái độ của tác giả: 
 - Tôn trọng, ca ngợi lối sống cao đẹp. 0.5
 - Nhắc nhở, khuyên bảo mỗi người cần chọn lẽ sống cho riêng mình. 
 Lưu ý: Giám khảo linh hoạt cho điểm, không áp đặt học sinh. Chỉ cho điểm tối 0.5
 đa khi học sinh trình bày thuyết phục, lập luận chặt chẽ, phù hợp với chuẩn mực 
 đạo đức, pháp luật.
 II Làm văn 7.0
 1 Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về lời khuyên: 
 2.0
 Con người phải biết sống bao dung.
 a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: 
 Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng-phân-hợp, 0.25
 móc xích hoặc song hành.
 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 
 0.25
 Con người phải biết sống bao dung.
 c. Triển khai vấn đề nghị luận: 
 Thí sinh có thể lựa chọn thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận 
 theo nhiều cách nhưng phải làm rõ lời khuyên Con người phải biết sống bao 
 dung Có thể triển khai theo hướng: 
 - Sống bao dung là sống bằng tình yêu thương, sự sẻ chia, sẵn sàng tha thứ cho 
 1.0
 lỗi lầm của người khác. 
 - Đó là lối sống đẹp, biết dung hòa, giúp đỡ nhau vượt qua những khó khăn, thúc 
 đẩy xã hội phát triển. 
 - Bao dung nhưng cần tỉnh táo, không bao che cho những sai lầm, khuyết điểm. 
 - Bao dung nhưng phải dũng cảm đấu tranh cho lẽ phải, sự công bằng.
 d. Sáng tạo 
 0.25
 Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
 e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. 0.25
 2 Phân tích đoạn trích trên. Từ đó, nhận xét về thông điệp cuộc sống và 
 5.0
 nghệ thuật mà nhà văn Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm. a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được 0.25
vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 
Phân tích đoạn trích, nhận xét về thông điệp cuộc sống và nghệ thuật mà nhà văn 0.5
Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: 
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác 
lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu cơ bản 
sau:
* Khái quát tác giả, tác phẩm và đoạn trích. 0.5
* Nội dung đoạn trích: 1.5
- Khung cảnh biển trong một đêm trở gió, nỗi lo lắng của ông lão về chiếc thuyền 
đơn độc ngoài xa, những trăn trở của Phùng về cuộc sống vất vả, hiểm nguy của 
người dân vùng biển. 
- Tấm ảnh trong bộ lịch của năm:
+ Với mọi người: đó là một tác phẩm nghệ thuật đích thực, kết tinh tâm huyết, tài 
năng của nghệ sĩ Phùng; được trưởng phòng ưng ý, công chúng đón nhận. 0.5
+ Với nghệ sĩ Phùng: là niềm trăn trở, sự chất vấn, tự vấn chính mình khi bức ảnh 
ấy còn xa rời cuộc sống. Ảnh thì đẹp nhưng thực tế cuộc đời còn biết bao cơ cực, 
vất vả. 
* Nghệ thuật: xây dựng nhân vật nhận thức, ngôn ngữ giàu chất triết lí, hình ảnh 
mang ý nghĩa biểu tượng. 
* Thông điệp nhà văn Nguyễn Minh Châu gửi gắm: 1,0
- Cuộc sống còn lắm nhọc nhằn, ngang trái, cần có sự cảm thông, thấu hiểu, cần 
có giải pháp hữu hiệu để giảm bớt đói nghèo. 
- Nghệ thuật đích thực là nghệ thuật sinh ra từ cuộc đời, gắn liền với cuộc đời. 
Người nghệ sĩ cần trung thực, dũng cảm để phản ánh chân thật về cuộc sống.
d. Chính tả, ngữ pháp: 
 0.25
 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
e. Sáng tạo: 
 0.5
 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
TỔNG ĐỂM 10.0 ĐỀ SỐ 6
 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2021
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
 MÔN: NGỮ VĂN
 CÀ MAU
 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích: 
 Mùa xuân về đọc thơ xuân các anh 
 Tuổi trẻ chúng tôi thấy lòng mình day dứt 
 Day dứt vì mình chưa làm được 
 Những điều hằng ước mơ 
 Những điều chúng tôi thề 
 Dưới cờ Đoàn trong giờ kết nạp, 
 Tuổi trẻ chúng tôi tha thiết 
 Được Đảng chăm lo 
 Được cống hiến cho quê hương nhiều nhất 
 Nhưng tuổi trẻ chúng tôi 
 Không ít người đang lỡ thì, mai một. 
 Theo năm tháng cuộc đời 
 Ngoảnh lại nhìn, mình chưa làm được bao nhiêu 
 Tuổi trẻ chúng tôi vẫn tự hào 
 Những trang sử vẻ vang dân tộc 
 Chúng tôi được học 
 Được thử thách nhiều trong chiến tranh 
 Chúng tôi nghĩ: Nguyễn Huệ - Quang Trung 
 Lứa tuổi hai mươi lập nên nhiều chiến công hiển hách. 
 Lẽ nào tuổi trẻ hôm nay thua thiệt 
 Có học hành, lại phải sống cầu an 
 Phải thu mình, xin hai chữ “bình yên” 
 (Trích Mùa xuân nhớ Bác, Phạm Thị Xuân Khải, tienphong.vn)
Thực hiện các yêu cầu sau: 
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? 
Câu 2. Trong đoạn trích, tác giả đã day dứt về những điều gì? 
Câu 3. Việc tác giả nhắc đến Nguyễn Huệ - Quang Trung trong đoạn trích có ý nghĩa như thế nào? 
Câu 4. Anh/chị hãy nhận xét thái độ của tác giả đối với tuổi trẻ trong đoạn trích. 
II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1. (2.0 điểm) 
 Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày 
suy nghĩ về lối sống cầu an, thu mình của tuổi trẻ hiện nay. 
Câu 2. (5.0 điểm) 
 Lúc ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé 
mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã 
xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói 
đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó 
bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước 
cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, 
chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi đến ngày rũ 
xương ở đây thôiNgười kia việc gì mà phải chết thế. A PhủMị phảng phất nghĩ như vậy. 
 Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị lại tưởng 
tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc đó bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị 
đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh 
này, làm sao Mị cũng không thấy sợ 
 Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A 
Phủ đương biết có người bước lạiMị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng 
hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, 
Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. 
Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy. 
 Mị đứng lặng trong bóng tối. 
 Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy 
xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt: 
 - A Phủ cho tôi đi. 
 A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói: 
 - Ở đây thì chết mất. 
 (Trích Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài, 
 Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2008, tr. 13-14) 
 Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận về khát vọng chân chính 
của con người trong cuộc sống.

File đính kèm:

  • docxbo_6_de_thi_thu_thpt_quoc_gia_mon_ngu_van_so_ca_mau_2021_202.docx