Bộ 15 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Cụm các trường THPT Hà Nội 2025-2026 (Có đáp án)

docx 86 trang Châu Cách 06/06/2026 50
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ 15 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Cụm các trường THPT Hà Nội 2025-2026 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 15 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Cụm các trường THPT Hà Nội 2025-2026 (Có đáp án)

Bộ 15 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Cụm các trường THPT Hà Nội 2025-2026 (Có đáp án)
 ĐỀ SỐ 4
 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
 Trường: ...........................................
 MÔN: NGỮ VĂN
 Lớp: ................................................
 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU: Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
 Tuổi trẻ không chỉ có nghĩa là trẻ tuổi, mà còn có nghĩa là năm tháng tươi đẹp nhất cuộc đời. Ở cái 
tuổi ấy, trong ba thứ: sức khỏe, thời gian và tiền bạc, chúng ta chỉ thiếu tiền thôi, còn thời gian và sức khỏe 
thì luôn đong đầy. Năm tháng qua đi khi về già ta sẽ nhận thấy tiền bạc hóa ra là thứ ít quan trọng nhất 
trong ba thứ trên.
 Nghĩa là tuổi trẻ là giai đoạn quý giá nhất đời người vì sở hữu trọn vẹn hai món quà lớn nhất của 
cuộc sống là sức khỏe và thời gian. Ta vốn được nghe nhiều người nói đến điều này rồi, nhưng hỡi ôi, sao 
chúng ta vẫn đang để cho tuổi trẻ của mình trôi qua một cách hời hợt và vô nghĩa đến thế? Với trí óc hạn 
hẹp được định hướng, phần lớn tuổi trẻ hiện tại cho rằng tiền bạc là hơn hết, là thứ quan trọng nhất, cần 
thiết nhất, là đáng lưu tâm nhất. Và rồi ta vô tình lãng quên hai món quà quý giá nhất đời kia. Hãy tận dụng 
tốt nhất hai món quà lớn đó mà cuộc sống dành riêng cho tuổi trẻ.
 Hãy dùng nó để nhào vào đời, để quyện vào cuộc sống, để trải nghiệm mọi thứ khi còn có thể. Trải 
nghiệm, đó chính là điều quan trọng nhất.
 Cuộc sống, thực chất là một cuộc trải nghiệm lớn, mà trong đó bạn phải đi tìm những mảnh ghép là 
những trải nghiệm nhỏ để từ đó ghép nên cuộc đời mình. Ai rồi cũng đến lúc phải giã từ cuộc sống, nhưng 
người may mắn hơn, là người sống được nhiều hơn những người khác. “Người sống nhiều nhất không phải 
người sống lâu năm nhất mà là người có nhiều trải nghiệm phong phú nhất, sống nhiều hơn người khác." 
(Jean Jacques Rousseau).
 Trải nghiệm sẽ là thầy dạy tốt nhất cho bạn trong cuộc đời mà không bất cứ người thầy nào khác có 
thể dạy tốt hơn. Kinh nghiệm từ đâu ra nếu không từ trải nghiệm? Người ta thực sự chỉ học được từ chính 
trải nghiệm bản thân mình!
 (Trích “Không có trải nghiệm, tuổi trẻ không đúng một xu” - Phi Tuyết)
Câu 1. Văn bản trên đề cập đến vấn đề gì?
Câu 2. Theo tác giả, món quà nào là quý giá nhất mà cuộc sống ban tặng cho con người? Và điều quan 
trọng nhất trong cuộc đời của mỗi người là gì?
Câu 3 (0,5 điểm): Theo tác giả, món quà quý giá nhất và điều quan trọng nhất trong cuộc đời là gì?
Câu 4 (1,0 điểm): Anh/Chị có đồng tình với quan điểm: “Trải nghiệm sẽ là thầy dạy tốt nhất...” không? 
Vì sao?
Câu 5. Từ thông điệp của văn bản, anh/chị hãy chỉ ra một biểu hiện cụ thể cho thấy một bộ phận tuổi trẻ 
hiện nay đang sống thiếu trải nghiệm thực tế và nêu tác hại của lối sống đó.
II. LÀM VĂN (6 điểm)
Câu 1 (2 điểm). Từ nội dung phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (200 chữ) về ý nghĩa của trải 
nghiệm thực tế đối với tuổi trẻ. Câu 2 (4 điểm). Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá truyện ngắn
(người trêu chọc. Ông Tiều chỉ biết đứng lặng người).
(...) Về đến lều, ông nằm vật ra giường, không ăn uống. Hôm sau ông lên cơn sốt. Bà Diễm hết lòng săn 
sóc thuốc thang nhưng vô ích. Lúc sắp trút hơi thở cuối cùng, ông gọi bà đến bên, lần tay vào mụn vá lớn 
sát ngực lấy ra một tấm ảnh đã ố vàng và một trăm đồng bạc gói kỹ tự bao giờ trong túi ni lông. Trong 
ảnh là một bé gái tóc tơ xấp xõa, đôi mắt tròn đen mở to ngây thơ. Ông Tiếu thều thào:
- Con tôi đấy bà ạ... Nó bị mất tích trong một trận bom. Người ta bảo nó đã chết cùng với mẹ nó. Nếu thế 
tại sao chỉ tìm thấy xác mẹ nó thôi. Tôi tin nó vẫn còn sống, có thể nó lưu lạc ở phương nào. Lê con ơi...
Từ đôi mắt mờ đục của ông, hai giọt nước như được gạn từ đáy mắt, như những giọt thủy ngân khó nhọc 
lăn ra. Ông nức lên, nói đứt quãng:
- Bà ơi, nếu có... một ngày nào đó bà thấy có một người con gái... trạc hai mươi... mà giống con... bé trong 
ảnh này... bà nhớ gọi lại hỏi gốc gác... xem có phải bố nó là ông Tuyền ở xóm Đoài, xã Hoài Ân... không 
nhé. Và nếu phải... bà nói rằng bố nó vẫn chờ nó... cho đến chết... bà đưa cho nó một trăm đồng... bạc này...
Rồi ông thở hắt ra. Nụ cười oan nghiệt vĩnh viễn tắt trên đôi môi ông.
Bà Diễm ngồi lặng câm nhìn tấm ảnh và một trăm đồng bạc côi cút. Trăm bạc này, chắc ông đã ki cóp từ 
lâu lắm, khi nó còn mua được nửa chỉ vàng. Ốm đau đói rét bao phen, cũng không bao giờ dám đụng đến, 
để cho đến bây giờ, một trăm đồng bạc của ông dành cho con cũng chỉ đủ để mua một mớ rau muống...
Rồi mộ ông Tiếu cỏ xanh phủ dần, đám cỏ đuôi gà bò lan cả ra mặt đất bằng. Thỉnh thoảng bà Diễm thắp 
vài nén hương cho ông, lần nào bà cũng thầm thì khấn:
- "Ông Tiếu ơi, tôi vẫn để ý tìm con cho ông mà đâu thấy. Tôi tìm cả khi chờ thùng nước đầy, cả khi đang 
gánh nước, ngày này qua ngày khác. Ờ, nếu nó còn sống thì tôi cũng chẳng còn mấy thời giờ nữa để làm 
việc đó cho ông. Tôi cũng sắp theo ông về với đất rồi đây. Nhưng mãi đến tận lúc này, tôi vẫn tin có thể 
chốc nữa, có thể tối nay, ngày mai, con bé đến và hỏi, giọng nó trong veo: "Có phải ông Tuyền cha cháu 
đây không?...". Người ta bảo nhau rằng, dạo này bà Diễm càng dở hơi tệ, bởi vì ngoài cái tật cứ nói lẩm 
bẩm một mình, trong tay bà không bao giờ rời cái gói nhỏ bọc vải nhựa đã cũ mèm, chẳng khác mụ phù 
thủy đang giữ chặt bùa phép duy nhất giúp cho bà còn sống trên đời này. Có ai biết rằng cái bùa phép đó 
là tấm ảnh một bé gái đã ố vàng và một trăm đồng bạc cũ. Đằng sau tấm ảnh, một dòng chữ mới viết xiên 
xẹo đầy lỗi chính tả: "Đây nà cháu Nê, con ông Tuyền ở xóm Đoài, xã Hoài Ân... một trăm đồng bạc lày 
nà của cháu!".
 (Trích trong 20 truyện ngắn chọn lọc, NXB Lao động, 2009, tr 291-299)
*Chú thích: Võ Thị Hảo (sinh năm 1959, quê Nghệ An) là nhà văn nữ tiêu biểu của văn học Việt Nam 
đương đại. Bà sáng tác chủ yếu ở các thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, với một số tác phẩm tiêu biểu như 
Người gánh nước thuê, Giàn thiêu, Người sót lại của rừng cười... Truyện ngắn Người gánh nước thuê là 
truyện ngắn đầu tay của bà (sáng tác năm 1989). Sáng tác của Võ Thị Hảo tập trung phản ánh số phận con 
người nhỏ bé trong đời sống hiện đại, đặc biệt là thân phận phụ nữ. Tác phẩm của bà thể hiện giá trị nhân 
văn sâu sắc, đồng thời bộc lộ ý thức phản biện xã hội qua giọng văn chừng mực, sắc sảo, giàu tính biểu 
tượng. HƯỚNG DẪN GIẢI
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1.
Phương pháp:
Đọc kĩ nội dung văn bản, phân tích và xác định vấn đề của văn bản
- Văn bản đề cập đến vấn đề: Ý nghĩa của tuổi trẻ và tầm quan trọng của trải nghiệm trong cuộc đời mỗi 
con người.
Câu 2.
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý và xác định câu trả lời
- Món quà quý giá nhất mà cuộc sống ban tặng cho con người: sức khỏe và thời gian.
- Điều quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi người: trải nghiệm sống (sống nhiều trải nghiệm phong phú).
Câu 3.
Phương pháp:
Căn cứ nội dung câu nói, phân tích tác dụng
- Việc trích dẫn câu nói của Jean Jacques Rousseau nhằm:
+ Tăng tính thuyết phục cho lập luận.
+ Khẳng định giá trị của trải nghiệm trong cuộc sống.
+ Làm sáng tỏ quan điểm: sống nhiều không phải là sống lâu mà là sống có trải nghiệm phong phú.
Câu 4.
Phương pháp:
Căn cứ bài ẩn dụ, phân tích tác dụng
- Biện pháp ẩn dụ:
“Cuộc sống là một cuộc trải nghiệm lớn” “Những mảnh ghép” là những trải nghiệm nhỏ.
- Hiệu quả:
Giúp diễn đạt sinh động, dễ hiểu.
Nhấn mạnh vai trò của từng trải nghiệm nhỏ trong việc tạo nên giá trị cuộc đời.
Gợi hình ảnh cuộc đời như một bức tranh được ghép từ nhiều mảnh trải nghiệm khác nhau.
Câu 5.
Phương pháp:
Căn cứ kiến thức bài đọc hiểu, HS nêu quan điểm cá nhân phù hợp.
- Biểu hiện: Nhiều bạn trẻ dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội, sống trong thế giới ảo, ngại va 
chạm thực tế.
- Tác hại:
+ Thiếu kỹ năng sống.
+ Hạn chế tư duy độc lập và khả năng thích nghi. Dễ rơi vào lối sống thụ động, thiếu bản lĩnh.
+ Lãng phí quãng thời gian quý giá của tuổi trẻ.
II. LÀM VĂN Câu 1:
 Phương pháp: Căn cứ kiến thức bài văn nghị luận xã hội, phân tích; vận dụng linh hoạt các thao tác lập 
 luận: giải thích, bàn luận,...
 1. Mở đoạn: Nêu vấn đề nghị luận: ý nghĩa của sự trải nghiệm.
 2. Thân đoạn:
 * Giải thích:
 - Trải nghiệm thực tế: là việc trực tiếp tham gia, va chạm, thử sức với cuộc sống, không chỉ học qua sách 
 vở hay lý thuyết.
- Trải nghiệm giúp con người tích lũy kinh nghiệm và trưởng thành.
 * Bàn luận:
 - Trải nghiệm đem lại hiểu biết và kinh nghiệm thực tế; giúp chúng ta mau chóng trưởng thành về cách 
 nghĩ, cách sống, bồi đắp tình cảm, tâm hồn, giúp mỗi người gắn bó và góp phần cống hiến cho cuộc đời, 
 cho đất nước.
 - Trải nghiệm giúp mỗi người khám phá chính mình để có những lựa chọn đúng đắn và sáng suốt cho tương 
 lai.
 - Trải nghiệm giúp mỗi người dấn thân, thử nghiệm để sáng tạo; biết cách vượt qua những trở ngại khó 
 khăn, tôi luyện bản lĩnh, ý chí để thành công.
 - Thiếu trải nghiệm cuộc sống của mỗi người sẽ nghèo nàn, thụ động, nhàm chán, vô ích; không cảm nhận 
 được sự thú vị của cuộc sống.
 Lấy dẫn chứng để chứng minh...
 * Liên hệ bản thân.
 3. Kết luận: Tổng kết vấn đề.
 Câu 2:
 Phương pháp: Căn cứ kiến thức bài văn nghị luận văn học, phân tích; vận dụng linh hoạt các thao tác lập 
 luận: giải thích, bàn luận,...
 1. Mở bài: Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận.
 2. Thân bài:
 a. Tình huống truyện
 - Cuộc gặp gỡ và chung sống giữa hai con người cùng cảnh ngộ – bà Diễm và ông Tiếu – những người lao 
 động nghèo khổ, cô độc; đặc biệt là lời trăng trối của ông Tiếu trước khi chết, gửi gắm niềm hi vọng tìm 
 lại đứa con thất lạc cho bà Diễm.
-Ý nghĩa tình huống truyện:
 + Làm nổi bật bi kịch số phận con người.
 + Tạo điểm nhấn để bộc lộ: Tình phụ tử thiêng liêng. Lòng nhân hậu, thủy chung của bà Diễm.
 + Tình huống vừa đơn giản, đời thường nhưng lại chứa đựng chiều sâu nhân văn và tính biểu tượng cao
 b. Nhân vật bà Diễm và ông Tiếu – Những mảnh đời "dưới đáy"
- Bà Diễm:
 + Ngoại hình đối lập với cái tên: Tên "Diễm" (đẹp đẽ) nhưng thực tại lại là sự "nhạo báng": loắt choắt, 
 còng lưng, mặt nhăn nheo. Hình ảnh chiếc đòn gánh "nhẵn bóng" như một thứ nghiệp chướng bám lấy 
 đời bà. + Số phận: Một người phụ nữ cô độc, lẩn thẩn, sống bằng nghề lao động nặng nhọc. Những bước chân bà 
 để lại vệt nước "như suối nước mắt" – biểu tượng cho cuộc đời đầy bi kịch.
- Ông Tiếu:
 + Cũng là một người lao động nghèo khổ, xuất hiện và gắn kết với bà Diễm bằng sự đồng cảm của hai 
 tâm hồn cô đơn.
 + Nỗi đau của ông là nỗi đau mất con trong chiến tranh, một vết sẹo tâm linh chưa bao giờ lành.
 => Tác phẩm là tiếng khóc xót thương cho những kiếp người bị gạt ra lề xã hội, nhưng đồng thời cũng là 
 bài ca về lòng tốt.
 => Trong sự nghèo khổ cùng cực, con người vẫn đối xử với nhau bằng sự tử tế và hy vọng. Niềm tin vào 
 tình người chính là thứ "bùa phép" giúp họ vượt qua sự khắc nghiệt của số phận.
 c. Đánh giá đặc sắc nghệ thuật
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Khắc họa qua ngoại hình, cử chỉ và thế giới nội tâm phức tạp, đầy gợi cảm.
 - Hình ảnh giàu tính biểu tượng: Chiếc đòn gánh, vệt nước rỏ trên đường, tấm ảnh ố vàng, ... tạo nên sức 
 nặng cho tác phẩm. Đặc biệt là biểu tượng tấm ảnh và 100 đồng bạc vừa nói lên số phận nhân vật, vừa thể 
 hiện tình người sâu sắc.
 - Ngôn ngữ và giọng điệu: trầm buồn nhưng chứa đựng sức công phá mạnh mẽ vào cảm xúc người đọc.
 3. Kết bài
 - Người gánh nước thuê vượt ra khỏi một câu chuyện về cái nghèo để trở thành bài học về tình yêu 
 thương giữa người với người.
 - Tác phẩm nhắc nhở chúng ta về sự thấu cảm đối với những mảnh đời bất hạnh xung quanh mình. ĐỀ SỐ 5
 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
 Trường: ...........................................
 MÔN: NGỮ VĂN
 Lớp: ................................................
 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
 Bất cứ sinh vật nào trên thế gian này cũng được vũ trụ ưu đãi (vũ trụ sinh ra mình thì phải có lý 
do của vũ trụ, hệ sinh thái tất nhiên cần có mình, cần có sự đóng góp của mình), rằng trong ngay cơ thể 
của chính bạn, bạn đã được trang bị đầy đủ để bạn có thể sống vui, an toàn, hạnh phúc, bền vững mà 
không cần ai giúp đỡ hay can thiệp. Tất cả những sự giúp đỡ đều có hai mặt, và bạn sẽ phải trả giá nếu 
bạn ỷ lại vào người khác. Một con nai, con chim, con cá, con trâu, con ngựa đều biết tự lo chỉ vài tiếng 
sau khi lọt lòng mẹ. Còn bạn? Bao nhiêu năm nữa bạn sẽ còn cần dựa vào gia đình? Bạn có hai chân, hai 
tay, bạn mang một trí tuệ tuyệt vời. Bạn có linh tính, tâm can, lương tri, đó là những người bạn tốt nhất 
của mình.
 Và bạn có nội lực. Nội lực là vũ khí tuyệt vời nhất mà vũ trụ đã tặng bạn ngay khi còn nằm trong 
bụng mẹ. Và chính nội lực của bạn là sợi dây nối bạn với vũ trụ, bạn có ý thức được chuyện này chăng? 
Nội lực của bạn mà cao, thì vũ trụ sẽ yêu bạn lắm, sẽ tạo cho bạn bao nhiêu cơ hội. Thành thử, người có 
nội lực cao không bao giờ đứng một mình, mà có cả vũ trụ đứng hỗ trợ ngay sau lưng. Nghệ thuật sống 
là thể hiện nội lực của mình mỗi lúc (làm gì cũng hết sức, hết tâm trí) để rồi bất thình lình, mình cảm 
nhận được sự hiện diện ấm áp của vũ trụ ngay cạnh mình.
 (Phan Văn Trường, Không có đỉnh quá cao, NXB Trẻ, 2022, tr.218-219)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định vấn đề nghị luận được đề cập trong văn bản trên.
Câu 2. Theo tác giả, đâu là những người bạn tốt nhất của bản thân?
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau:“trong ngay cơ thể của chính bạn, 
bạn đã được trang bị đầy đủ để bạn có thể sống vui, an toàn, hạnh phúc, bền vững mà không cần ai giúp 
đỡ hay can thiệp”.
Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến: “Người có nội lực cao không bao giờ đứng một mình”?
Câu 5. Hai ngữ liệu sau có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
- “Nội lực là vũ khí tuyệt vời nhất mà vũ trụ đã tặng bạn ngay khi còn nằm trong bụng mẹ.”
 (Phan Văn Trường, Không có đỉnh quá cao)
- “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.”
 (Lời dạy của Đức Phật)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung trong văn bản phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy 
nghĩ về những điều người trẻ cần làm để phát huy nội lực của bản thân trong cuộc sống hiện đại.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá nhân vật Hiên trong truyện ngắn sau:
 HOA TRÊN ĐẢO
 -Lê Quang Trạng -
 (Tóm tắt bối cảnh: “Tôi” biết Hiên qua những bài viết trên báo về đảo Vọng, nơi cô sống và dạy 
học. Bị cuốn hút bởi văn phong và câu chuyện, “tôi” quyết định tìm đến đảo, vượt qua nhiều khó khăn. 
Trên đường đi, “tôi” gặp những đứa trẻ nhiệt tình và một người lái đò kể về cuộc sống khắc nghiệt trên 
đảo. Cuối cùng, “tôi” đến nơi, nhìn thấy lớp học đơn sơ của Hiên và cảm nhận được tâm hồn, nghị lực phi 
thường của cô giáo trẻ).
 Tôi bước vào lớp học, thật bất ngờ khi thấy cô giáo nhỏ đang ngồi đóng đinh cho những tấm ván 
mới kết vào nhau. Hơi bất ngờ với khách lạ, cô ngại ngùng cúi đầu chào, chỉ nói mỗi chữ "dạ" nghe nhẹ 
nhàng chẳng khác nào hạt gió. Tiếp tôi ngay tại chiếc bàn học cũng được kết lại từ những xác thuyền, 
Hiên khá bất ngờ khi biết tôi đọc nhiều bài viết của em. Như bắt được mạch nguồn, em kể về lai lịch từng 
bài mà tôi nhắc đến. Ví như bài về ngọn rau muống biển bò vào tận lớp, em hình dung đến hoa muống 
còn muốn nghe em giảng thì em chẳng lý gì mà bỏ đảo ra đi. Hay như những con rùa biển hay bò lên bãi 
đẻ vào lúc nửa đêm, em chờ khi chúng xuống biển cả thì sẽ ra lượm trứng mang về để ấp đèn, nếu không 
thì số trứng ấy dễ bị bão cuốn đi mất. Em làm tôi nhớ lại bài tản văn em nói rằng nhìn những con rùa con 
bơi về biển, lòng cũng rộn vui như trăm ngàn cánh hoa nở trên mặt đại dương xanh
Hiên dắt tôi đi quanh đảo, những ngôi nhà vắng người, đám trẻ chạy ra, chạy vào ngó khách. Hiên bảo 
ba mẹ bọn trẻ thường đi biển, chúng ở lại nhà, cả đảo chỉ còn mỗi Hiên là người lớn! Em vừa làm cô, 
vừa làm mẹ cho hơn chục đứa nhỏ rắn rỏi và mạnh mẽ như những cây dừa gầy khẳng khái trước sóng 
biển. Ghé lại một lớp học phía bờ tây, Hiên nói rằng phía này bão đã qua lâu, nên em sửa sang lại để 
chuẩn bị khi bão có đến thì kịp qua bên này để tránh. Lớp đơn sơ, tấm bảng và cả cái tủ sách trống huơ 
cũng làm từ xác thuyền đắm. Hiên cười tươi, giọng em ấm áp lạ thường, "ngoài này chẳng khát nước 
bằng khát sách". Có lẽ vậy mà khi tôi tặng em mấy quyển sách mang theo, mắt Hiên long lanh đón nhận, 
em cười tươi như nắng sớm. Lúc này tôi mới thật sự tin rằng, cái đẹp của văn chương và cuộc sống vẫn 
có thể nở hoa ở mảnh đất cằn.
 Chiều hôm ấy, từ giã Hiên và đám trẻ để về lại đất liền, lòng tôi cứ dùng dằng rất lạ. Nửa muốn ở 
lại đảo thêm ít hôm, nữa lại muốn về vì trời đà sụp tối. Tôi hỏi Hiên rằng, "em sẽ ở lại đảo đến khi nào?". 
Hiên cười, "cháu cũng không biết nữa, nhưng thấy mấy đứa trẻ còn nhỏ dại, đảo còn nghèo quá, cháu 
không nỡ bỏ". Câu nói của Hiên làm tôi sực tỉnh, đâu phải đất giàu mới là nơi đáng đến - như tôi mong 
mỏi điều chi đó đẹp đẽ lấp lánh ở chốn này mà lặn lội đi tìm?
Sau lần đó, mỗi năm tôi ra đảo một lần. Quà cho đảo chẳng có gì hơn ngoài những quyển sách và chút 
bánh kẹo. Nhưng lần nào ra, tôi cũng thấy đảo xanh và đẹp hơn Đám trẻ sau một năm lại thêm lớn, 
chúng ríu rít bên những luống rau được trồng từ túi hạt tôi mang ra tặng từ năm trước. Những quyển 
sách hướng dẫn trồng rau và tình yêu của Hiên đã dạy đám trẻ lao động và tin rằng, gieo mồ hôi xuống 
Vọng là đảo sẽ trổ hoa. Thật lạ, bao giờ cũng vậy, nhìn đám trẻ tươi vui, tôi lại thấy đảo như một đóa 
hoa lớn giữa nền biển xanh.
 (Tuyển tập truyện ngắn hay, NXB Trẻ 2022, Tr 145-146)
 .Hết. HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần Câu Nội dung Điểm
 ĐỌC HIỂU 4.0
 Vấn đề nghị luận: Vai trò của sự tự lập và nội lực đối với mỗi người.
 Hướng dẫn chấm:
 1 - HS nêu đúng vấn đề như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm. 0,5
 - HS nêu được 1 ý của vấn đề: 0,25 điểm
 - HS chưa nêu đúng hoặc không làm: 0 điểm.
 Theo tác giả, những người bạn tốt nhất của bản thân là: linh tính, tâm can, 
 lương tri.
 Hướng dẫn chấm:
 2 0,5
 - HS trả lời đúng 02 ý: 0,5 điểm.
 - HS trả lời đúng 01 ý: 0,25 điểm.
 - HS trả lời sai không cho điểm.
 - Biện pháp nghệ thuật liệt kê: sống vui, an toàn, hạnh phúc, bền vững
 - Tác dụng:
 + Diễn tả đầy đủ các trạng thái sống tích cực mà con người có thể đạt được.
 + Nhấn mạnh con người đã có sẵn những điều kiện bên trong để hướng tới một 
 cuộc sống tốt đẹp toàn diện.
 + Tạo nhịp điệu dồn dập, tăng hiệu quả diễn đạt, góp phần khẳng định mạnh mẽ 
 3 1,0
 I giá trị của bản thân mỗi người.
 Hướng dẫn chấm:
 - HS chỉ rõ biện pháp liệt kê: 0,25 điểm,
 - HS trả lời đúng 03 tác dụng: 0,75 điểm;
 - HS trả lời đúng 02 tác dụng: 0,5 điểm
 - HS trả lời đúng 01 tác dụng: 0,25 điểm
 Hiểu ý kiến: “Người có nội lực cao không bao giờ đứng một mình”?
 - “Nội lực cao”: là có bản lĩnh, ý chí, năng lực.
 - “Không đứng một mình” là:
 + Con người sẽ nhận được sự hỗ trợ từ hoàn cảnh, cơ hội.
 + Thu hút sự giúp đỡ của người khác.
 4 - Ý kiến nhấn mạnh con người mạnh mẽ từ bên trong sẽ tạo ra cơ hội và sự 1,0
 đồng hành.
 Hướng dẫn chấm:
 - HS trả lời đúng 02 ý:1,0 điểm
 - HS trả lời đúng 01 ý: 0,5 điểm
 - HS trả lời không đúng: 0 điểm
 Điểm tương đồng:
 5 1,0
 - Cả hai ngữ liệu đều đề cao vai trò sức mạnh nội lực của con người. - Nhấn mạnh con người cần tự chủ, tự lực, không phụ thuộc vào người khác.
 - Khẳng định: mỗi người phải tự tìm con đường và chịu trách nhiệm với cuộc 
 đời mình.
 - Hướng con người đến lối sống chủ động, bản lĩnh và tự tin.
 Hướng dẫn chấm:
 - HS trả lời đúng 4 ý: 1,0 điểm
 - HS trả lời đúng 3 ý: 0,75 điểm
 - HS trả lời sai hoặc không làm: 0 điểm
 LÀM VĂN 6.0
 Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
 a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về 
 hình thức, dung lượng
 - Vấn đề nghị luận: những điều người trẻ cần làm để phát huy nội lực của bản 
 0,5
 thân trong cuộc sống hiện đại.
 - Hình thức: có thể trình bảy đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân 
 - hợp...
 - Dung lượng: khoảng 200 chữ.
 b. Yêu cầu cụ thể: học sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng 
 đúng các kĩ năng nghị luận.
 b1. Giải thích được vấn đề nghị luận:
 0,25
 Nội lực: là sức mạnh bên trong mỗi con người (ý chí, nghị lực, trí tuệ, bản 
 lĩnh). Phát huy nội lực: là biết nhận thức, bồi dưỡng, rèn luyện và sử dụng 
 hiệu quả những khả năng sẵn có của bản thân vào trong cuộc sống.
 b2. Bàn luận về những điều cần làm để phát huy nội lực:
II 1 0,75
 - Sống có ý chí, nghị lực, có niềm tin vào bản thân mình.
 (2.0)
 - Sống chủ động, sáng tạo, có kế hoạch học tập và làm việc rõ ràng, cụ thể.
 - Học tập nâng cao kiến thức, tích lũy tri thức, rèn luyện các kỹ năng sống, 
 chuẩn bị hành trang vững chắc để thích ứng với xã hội hiện đại.
 - Bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân để chinh phục những thử thách mới.
 - Nắm bắt các cơ hội xung quanh.
 (HS lấy dẫn chứng tiêu biểu, có sức thuyết phục)
 b3. Mở rộng được vấn đề và rút ra bài học:
 - Phê phán người trẻ:
 0,25
 + Sống thụ động, ỷ lại.
 + Thiếu ý chí, mục tiêu, thiếu nỗ lực cá nhân.
 - Bài học nhận thức và hành động: cần chủ động phát triển bản thân từ bên 
 trong.
 c. Sáng tạo
 - Có những ý đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục.
 0,25
 - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo. Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
 a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về bố 
 cục và dung lượng của bài văn. 1,0
 - Vấn đề nghị luận: phân tích, đánh giá nhân vật Hiên trong truyện.
 - Dung lượng: khoảng 600 chữ.
 b. Yêu cầu cụ thể: học sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng 
 đúng các kĩ năng nghị luận.
 3,0
 b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học
 - Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề nghị luận.
 0,5
 - Kết bài: Khái quát được vấn đề nghị luận.
 b2. Phân tích nhân vật Hiên:
 - Hoàn cảnh của nhân vật:
 Hiên là cô giáo trẻ gắn bó với đảo Vọng – một hòn đảo xa xôi, nghèo khó, 
 hoang sơ, nơi “chỉ còn mỗi em là người lớn”. Ở đây, Hiên vừa làm cô giáo, vừa 
 như một người mẹ, chăm sóc và dạy dỗ hơn chục đứa trẻ mà cha mẹ chúng 
 thường xuyên đi biển.
 - Vẻ đẹp nhân vật:
 + Hiên là một cô giáo trẻ yêu nghề, tận tụy, giàu đức hy sinh, lòng nhân ái. Hiên 
 chấp nhận gắn bó với đảo Vọng xa xôi, nghèo khó, để gieo chữ cho những đứa 
 2
 trẻ nghèo; không chỉ làm cô giáo, Hiên còn “làm mẹ” chăm sóc, dạy dỗ, nuôi 
(4.0) 1,25
 dưỡng tâm hồn chúng bằng cả tình yêu thương và trách nhiệm.
 + Hiên lạc quan và có niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống. Điều này không chỉ 
 giúp Hiên vượt qua khó khăn mà còn truyền cảm hứng cho những đứa trẻ và 
 nhân vật “tôi”.
 + Hiên say mê văn chương, trân quý tri thức: Hiên có nhiều bài viết chân thực, 
 xúc động; nâng niu từng quyển sách như nguồn sống giữa đảo xa.
 - Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
 0,5
 + Sử dụng ngôi kể thứ nhất
 + Ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi
 + Giọng điệu trần thuật nhẹ nhàng
 b3. Đánh giá
 - Hiên là “hoa trên đảo”, là biểu tượng đẹp của sự hy sinh, niềm tin cuộc sống, 
 lòng yêu người yêu nghề.
 0,25
 - Qua đó, thể hiện thái độ trân trọng của tác giả về ý nghĩa cao đẹp của nghề 
 giáo và giá trị của tình người nơi đảo xa.
 b4. Sáng tạo
 - Có những ý đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục.
 0,5
 - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
 TỔNG ĐIỂM 10

File đính kèm:

  • docxbo_15_de_thi_thu_thpt_quoc_gia_mon_ngu_van_cum_cac_truong_th.docx