Bộ 11 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Sơn La 2021-2026 (Có đáp án)

docx 59 trang Châu Cách 31/05/2026 60
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ 11 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Sơn La 2021-2026 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 11 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Sơn La 2021-2026 (Có đáp án)

Bộ 11 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Sơn La 2021-2026 (Có đáp án)
 Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Bài Những bức tường được viết theo thể thơ nào? 
Câu 2. (0,5 điểm) Anh/Chị hãy xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ. 
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích hiệu quả của phép điệp trong đoạn thơ sau:
“Những bức tường, những bức tường, những bức tường có mặt khắp nơi, trong những lời vui đoàn tụ 
trong những lời buồn chia tay”
Câu 4. (1,0 điểm) Anh/Chị hãy giải thích ý nghĩa của hình ảnh bức tường trong bài thơ.
Câu 5. (1,0 điểm) Trình bày về một thông điệp ý nghĩa nhất với anh/chị khi đọc Những bức tường.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1: Anh/Chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích những suy tư của nhà thơ 
được thể hiện trong đoạn sau:
“Có những bức tường ta xây và ta phủ, 
có những bức tưởng ta không xây
và không nhìn thấy.
Anh và em đi giữa mặt đất này
Giữa những bức tưởng ta xây và phá 
Nhưng tất cả đều bị bao quanh
Bởi những bức tường không nhìn thấy."
Câu 2: Trong cuộc sống hiện đại, nhịp sống gấp gáp, hối hả có thể tạo thêm nhiều khoảng cách vô hình 
giữa con người. Anh/Chị chọn vượt qua những khoảng cách đó hay chấp nhận nó như là một phần của 
cuộc sống?
Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày quan điểm của anh/chị.
 ---------------------HẾT--------------------- HƯỚNG DẪN GIẢI
PHẦN I: ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp: Căn cứ các thể thơ đã học, phân tích
Số chữ trong các dòng không bằng nhau là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do của văn bản.
Câu 2:
Phương pháp: Đọc phân tích, tìm và xác định hình ảnh phù hợp.
- Hình ảnh bức tường xuất hiện ở những không gian sau:
+ Giữa con người với con người (giữa cái bắt tay, giữa em và người trong gương, giữa hai chiếc gối).
+ Giữa con người và thiên nhiên (khi nhìn trời, nhìn đất)
+ Xuất hiện ở những hoàn cảnh khác nhau như đoàn tụ hay chia tay.
Câu 3:
Phương pháp: Căn cứ bài điệp ngữ, xác định đúng câu thơ có sử dụng biện pháp điệp và phân tích.
- Phép điệp cụm từ những bức tường.
- Hiệu quả:
+ Nhấn mạnh ý nghĩa biểu tượng của những bức tường. Những bức tường không chỉ là ranh giới vật lý 
mà còn là hình ảnh ẩn dụ cho những giới hạn vô hình: sự ngăn cách, cô lập trong tâm hồn, mối quan hệ, 
và cả trong nhận thức của con người.
+ Nhấn mạnh rằng những rào cản không chỉ giới hạn ở một không gian hay thời điểm cụ thể mà tồn tại ở 
mọi nơi, mọi hoàn cảnh.
+ Góp phần tạo nhịp điệu dồn dập, qua đó, tác giả khơi gợi sự suy ngẫm, trăn trở về những rào cản vô 
hình trong cuộc sống mà ai cũng từng đối diện.
Câu 4:
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Ý nghĩa của âm thanh lũ quạ trong hai câu thơ cuối:
- Gợi sự chế giễu, bất lực trước những bức tường vô hình tồn tại khắp nơi trong cuộc sống và mối quan 
hệ con người.
- Khơi gợi sự trăn trở về cách vượt qua những rào cản vô hình này.
Câu 5:
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Những bức tường vô hình đang tồn tại trong xã hội ngày nay có thể là: Sự thiếu thấu hiểu trong mối quan 
hệ gia đình, khoảng cách thế hệ, sự cạnh tranh và đố kị trong công việc, định kiến xã hội, và sự cô lập do 
công nghệ khiến con người ít giao tiếp trực tiếp.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về cách viết đoạn văn nghị luận.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ, dẫn chứng.
Gợi ý:
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung 2. Thân đoạn:
- Hai kiểu “bức tường”:
“Có những bức tường ta xây và ta phá”: Là những giới hạn do chính con người tạo ra trong các mối quan 
hệ – có thể nhận biết và chủ động thay đổi.
“Có những bức tường ta không xây và không nhìn thấy”: Là những rào cản vô hình, vô thức – như định 
kiến xã hội, tổn thương, nỗi sợ, sự cô đơn ta không thấy nhưng vẫn tồn tại và chi phối.
- Ý nghĩa biểu tượng:
“Anh và em” đại diện cho tất cả con người trong cuộc sống – dù cố gắng kết nối, giao tiếp, yêu thương, 
nhưng luôn bị bao vây bởi những giới hạn vô hình.
Những bức tường không nhìn thấy khiến con người trở nên xa cách nhau dù ở gần.
- Suy tư triết lý:
Nhà thơ không chỉ nói đến khoảng cách giữa người với người, mà còn là khoảng cách giữa con người với 
chính mình.
Gợi mở nỗi cô đơn bản thể, khát vọng vượt qua nhưng đầy bất lực.
3. Kết đoạn: Khẳng định thông điệp
Qua đoạn thơ, Trương Đăng Dung đã thể hiện một nỗi buồn lặng lẽ, một trăn trở triết lý về sự chia cắt 
trong cuộc sống hiện đại.
Từ đó, ông đánh thức người đọc nhìn lại bản thân, học cách lắng nghe – thấu hiểu – sẻ chia để phá bỏ 
những “bức tường vô hình”.
Câu 2:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức đã học về viết bài văn nghị luận.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng.
Có thể triển khai theo hướng:
1. Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề nghị luận và đưa ra quan điểm của bản thân.
2. Thân bài:
- Những khoảng cách vô hình trong cuộc sống hiện đại:
+ Nhịp sống hiện đại và sự gấp gáp: Con người ngày nay sống nhanh, tập trung vào công việc và các mục 
tiêu cá nhân, điều này dễ dẫn đến sự thiếu thời gian và sự quan tâm cho các mối quan hệ xã hội. Thời gian 
dành cho gia đình, bạn bè ngày càng ít, thay vào đó là những cuộc gặp gỡ nhanh chóng, chỉ để làm thủ 
tục xã giao.
+ Sự xa cách trong giao tiếp: Công nghệ khiến con người dễ dàng kết nối qua các thiết bị điện tử, nhưng 
cũng tạo ra một rào cản về cảm xúc, khi người ta không còn trực tiếp nhìn vào mắt nhau, không còn 
những cuộc trò chuyện sâu sắc.
-Tại sao chúng ta nên vượt qua những khoảng cách đó?
+ Giá trị của mối quan hệ đích thực: Các mối quan hệ gia đình, bạn bè, tình yêu là nền tảng tạo nên 
hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người. Khi ta tạo dựng sự kết nối và lắng nghe, ta có thể 
hiểu rõ hơn về nhau, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn.
+ Tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng cảm xúc: Con người cần sự gắn kết cảm xúc để tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống, để đối mặt với những thách thức. Đôi khi, chỉ cần một cuộc trò chuyện thân mật hoặc 
một cái ôm cũng đủ làm vơi đi nỗi cô đơn.
+ Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách dành thời gian để lắng nghe, trò chuyện, tôn trọng cảm xúc của 
những người xung quanh.
+ Thay vì sống một mình trong thế giới ảo, hãy tập trung vào những khoảnh khắc thực tế, chia sẻ cảm xúc 
thật.
- Những thách thức khi vượt qua những khoảng cách vô hình:
+ Trong xã hội hiện đại, mọi người đều bận rộn, có thể gặp khó khăn trong việc tìm thời gian để kết nối 
thực sự. Nỗi lo lắng, sự bận rộn, hay thậm chí sự sợ hãi trong việc mở lòng có thể cản trở việc tạo dựng 
các mối quan hệ sâu sắc.
+ Tuy nhiên, việc đối diện và vượt qua những khó khăn này sẽ giúp ta trở nên mạnh mẽ và trưởng thành 
hơn. Mỗi mối quan hệ đều cần sự đầu tư, sự kiên nhẫn và yêu thương.
3. Kết bài
- Trong cuộc sống hiện đại, chúng ta không thể sống hạnh phúc và viên mãn nếu chỉ chấp nhận những 
khoảng cách vô hình giữa con người.
- Việc vượt qua những khoảng cách này, dù có khó khăn, nhưng lại vô cùng cần thiết để duy trì những giá 
trị nhân văn trong cuộc sống. ĐỀ SỐ 5
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025
 SƠN LA MÔN: NGỮ VĂN
 LẦN 2 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
PHẦN I: ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
Lời cầu hôn trong thời đại số
 (1) Từ lúc hai đứa trẻ gặp nhau lần đầu tiên cho đến khi chúng chính thức trở thành "vợ chồng" 
theo phong tục, có thể chỉ tính bằng tiếng đồng hồ. "Bây giờ có cái Facebook đấy" - phó chủ tịch xã Lóng 
Luông, Giàng A Gia nhận định. Hai bạn trẻ có thể kết bạn qua mạng, gặp nhau lần đầu, thích nhau và sau 
vài chục phút đã có mặt tại nhà người nam để bắt đầu tiến trình trở thành vợ chồng. "Vừa yêu được 2 
tiếng thì anh ấy hỏi có cưới không", một cô bé 14 tuổi tại Vân Hồ chia sẻ trên sóng VTV về một người 
bạn quen qua Facebook.
Tổng thời gian từ lúc kết bạn qua mạng đến lúc thành vợ người ta là trong hai ngày (. )
 (2) Mở Facebook giữa những kỳ nghỉ lễ, rất dễ gặp ai đó đang check-in bên những tán mận trắng, 
những đồi chè hay nếp nhà người Mông ở Vân Hồ. Du lịch đang bùng nổ. Giữa huyện miền núi là một đô 
thị đang thai nghén với đường bê tông sau làn xe. Những tín hiệu kinh tế lấp lánh. Kỷ niệm 10 năm thành 
lập huyện là một chương trình nghệ thuật quy mô với đầy nghệ sĩ tên tuổi từ Hà Nội; giải xe thể thao 
tường thuật trực tiếp trên VTV và hàng đoàn xe dưới xuôi lên dự hội. Dọc quốc lộ 6 đang mọc nhà hàng, 
homestay và nông trại dâu tây – thứ đặc sản mới ở vùng khí hậu này. Trong 10 năm, tỉ lệ hộ nghèo đã 
giảm một nửa.
 (3) Nhưng những tin hiệu kinh tế đó chưa làm suy chuyển những định kiển lâu đời. Năm 2021, ở 
Vân Hồ có 72 cặp tảo hôn trong tổng số 265 cặp kết hôn, theo thống kê của Trung tâm Y tế huyện. 144 
đứa trẻ lấy vợ lấy chồng. Nhưng trong văn bản xác định mục tiêu vận động chống nạn tảo hôn của trung 
tâm y tế cuối năm đó, người ta nhìn thấy một mục tiêu cho năm 2022: "Giảm 0,5% tỉ lệ tảo hôn". Viết 
bằng chữ: không phẩy năm phần trăm. Năm 2022, số ca tảo hôn tăng lên tới 81. Nhưng vì năm đó có 
nhiều cặp kết hôn hơn nên tỉ lệ tảo hôn lại thành ra giảm. Thống kê gần nhất ở quy mô toàn quốc (số liệu 
năm 2018) cho thấy tỉ lệ tảo hôn vẫn đang chiếm đa số trong cộng đồng người Mông, với mức 51%. Con 
số này tăng so với lần thống kê trước đó của UN Women (năm 2015, hơn 30%). Tại Vân Hồ, thống kê 
riêng của Trung tâm Y tế huyện, khẳng định rằng trong năm tháng đầu năm 2023, đã có 53 cặp tảo hôn 
trong tổng số 165 cặp kết hôn, với tỉ lệ 32%.
 (4) Theo nhận định của lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện - những người đang phụ trách các chương 
trình về sức khỏe tiền sinh sản trong cộng đồng, tình trạng tảo hôn "có xu hướng gia tăng". Những yếu tố 
tạo ra những ca tảo hôn đều hình thành một cách tự nhiên: áp lực của một bộ phận cộng đồng, những 
người thuộc thế hệ trước, vốn cũng kết hôn từ khi 14, 15; định kiến giới nặng nề về vai trò "trước sau gì 
cũng lấy chồng, sinh con" của người con gái; hôn nhân được tuyên bố và thừa nhận một cách tối giản, chỉ 
cần ý chí nhất thời của cả hai đứa trẻ. Và như nhận định của những cán bộ tại Vân Hồ, do những kết nối 
mới thông qua Internet. (5)Không cần tiếng sáo gọi bạn, không cần những đêm hội, không cần ném-bắt quả pao, mạng xã 
hội đã giản lược hóa tất cả những kết nối cần thiết để những thiếu niên này đi đến một quyết định hôn 
nhân.
 (Đinh Đức Hoàng, https://cuoituan.tuoitre.vn/xu-huong-gia-tang-tao-hon-loi-cau-hon-tuoi-15) 
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Chỉ ra cách trình bày thông tin trong văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Theo văn bản, có những lí do nào khiến hiện tượng tảo hôn ở Vân Hồ vẫn có xu hướng 
gia tăng trong thời đại công nghệ khi tín hiệu kinh tế đã đáng mừng hơn?
Câu 3. (1,0 điểm) Nhận xét về vai trò, ý nghĩa của các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thể hiện ở đoạn (1) 
và (3) trong văn bản.
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ điệp ngữ trong câu sau: “Không cần tiếng sáo 
gọi bạn, không cần những đêm hội, không cần ném-bắt quả pao, mạng xã hội đã giản lược hóa tất cả 
những kết nối cần thiết để những thiếu niên này đi đến một quyết định hôn nhân.
Câu 5. (1,0 điểm) Văn bản “Lời cầu hôn trong thời đại số” gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về những ảnh 
hưởng, áp lực của cộng đồng và định kiến trong đời sống?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về 
nguy cơ “giản lược hoá những kết nối cần thiết” trong đời sống do mạng xã hội.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh tâm trạng nhân vật Mị và nhân vật 
Mao trong hai đoạn trích sau:
 “Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đẩy 
nhìn người nhảy đồng, người hát. Nhưng lòng My đang sống về ngày trước, tai văng vẳng tiếng sáo gọi 
bạn đầu làng. Ngày trước Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân đến, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn 
chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo 
Mị hết núi này sang núi khác.
 Rượu tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mị không biết. Mẹ vẫn ngồi trơ một mình 
giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy. Nhưng Mị không bước ra đường. Mị từ từ vào buồng.
Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. My cũng chẳng buồn đi.
Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Từ nãy Mị thấy phơi phới 
trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. 
 Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà 
vẫn phải ở với nhau. Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ 
lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra.
Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường.”
 (Trích Vợ chồng A Phủ, in trong tập truyện Truyện Tây Bắc, Tô Hoài, Nxb Văn học, 1971, tr.135-136)
 Ngày ấy cả vùng này biết tiếng cô Mao đẹp người, nết cũng đẹp, con gái bản trên làng dưới không 
ai dám nhận mình thêu thùa, dệt vải vừa nhanh vừa đẹp như cô. Cả vùng cũng chỉ có nhà anh Chúng chồng đủ bạc trắng, đủ gạo, rượu như bố mẹ Mao thách cưới, vậy là Mao về làm dâu nhà Chúng. Trước 
ngày cưới, cả đêm tiếng chân ngựa bồn chồn ngoài bờ rào đá làm Mao thức trắng. Mờ sáng thì con ngựa 
ấy bỏ đi, một lúc sau thì tiếng đàn môi cất lên từ sau hẻm núi. Tiếng đàn môi nghe rất xa. Mao ngồi dậy, 
nhìn qua ô cửa bé bằng hai bàn tay, thấy ngoài
trời mù mịt sương ập xuống mảnh sân, vườn, nhìn từ nhà ra bờ rào đã không thấy rõ. Tiếng đàn môi từ rất 
xa kia lại giống như mũi tên xuyên qua sương dày đặc, lao đến. Tiếng đàn môi buồn rầu, trách móc. Mao 
lặng lẽ khóc, từ hôm ấy Mao không bao giờ nghe tiếng đàn môi dành cho riêng mình nữa.
 Sau ngày cưới một năm, hai năm, rồi ba năm, chờ mãi mà vợ chồng Mao vẫn chưa có con. Lúc 
đầu nhà chồng còn chạy tìm thầy tìm thuốc sau thấy không làm được gì đành thôi. Bố chồng, mẹ chồng 
nối nhau đi, thương con dâu như con gái nên không đành mở miệng bảo con trai đi tìm vợ mới, dù cả họ 
chỉ còn mỗi một người đàn ông trẻ nhất là Chúng.
 (Trích Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, in trong tập truyện ngắn cùng tên của Đỗ Bích Thuý; NXB Văn học, 
 2021, tr.139-140)
*
Vợ chồng A Phủ viết năm 1953, là một truyện ngắn hay của nhà văn Tô Hoài về đề tài Tây Bắc. Truyện 
kể về cô Mị đẹp, có tài thổi sáo và đã có người yêu. Nhà Mị nghèo, vì món nợ của cha mẹ mà bị nhà 
thống lý Pá Tra lừa bắt về làm con dâu gạt nợ nhà thống lý. Hồi mới về làm dâu, Mị còn cảm thấy đau 
khổ và muốn chết, nhưng thương bố, Mị quay trở lại làm dâu nhà Pá Tra. Từ đó My dần quen khổ, mỗi 
ngày một lầm lì, không nói cho đến khi mùa xuân đến...
* Tiếng đàn môi sau bờ rào đá được Đỗ Bích Thuý viết vào khoảng những năm 2000. Cô Mao đẹp người 
đẹp nết lấy anh. Chúng vì Chúng là người duy nhất chồng đủ bạc đủ rượu. Tuy không có con với Mao 
song Chúng vẫn giữ lại Mao ở lại nhà làm bổn phận Mẹ Già trông nom con cái của Chúng với người đàn 
bà khác. Trước cuộc sống đi ngang về tắt của chồng, Mao bắt đầu khắc khoải về tiếng đàn môi của người 
thương...
 ---------------------HẾT--------------------- HƯỚNG DẪN GIẢI
PHẦN I: ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp: Vận dụng kiến thức đã học về cách trình bày trong văn bản, phân tích.
Cách trình bày thông tin theo trật tự logic:
- Trình bảy, đánh giá về hiện trạng tảo hôn.
- Đánh giá nguyên nhân khiến hiện tượng tạo hôn vẫn gia tăng trong thời đại số.
Câu 2:
Phương pháp: Đọc phân tích, tìm và xác định nguyên nhân.
- Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tảo hôn gia tăng ở Vân Hồ, Sơn La:
- Áp lực cộng đồng và định kiến giới.
- Mạng xã hội tạo nên những kết nối giản lược, những quyết định hôn nhân vội vàng ở các bạn trẻ..
Câu 3:
Phương pháp: Căn cứ kiến thức về dữ liệu sơ cấp, thứ cấp, phân tích
Các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp trong văn bản:
- Dữ liệu sơ cấp (đoạn 1): Ghi chép phỏng vấn, câu chuyện của các nhân vật cụ thể tạo nên góc nhìn chân 
thực, gần gũi, màu sắc trải nghiệm.
- Dữ liệu thứ cấp (đoạn 3): Dẫn ra các số liệu về hiện tượng tảo hôn theo chỉ số thống kê của Trung tâm Y 
tế huyện, toàn quốc và tổ chức quốc tế UN Woman, tạo nên tỉnh khách quan, sức thuyết phục của thông 
tin.
Câu 4:
Phương pháp: Căn cứ bài điệp ngữ, phân tích.
Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ:
- Điệp ngữ: "Không cần” lặp lại 3 lần.
- Hiệu quả: Khẳng định sự thay đổi của đời sống, mạng xã hội nhanh chóng thay thế những phương tiện 
kết nối truyền thống (sáo, khèn, pao) để tạo nên những kết nối chóng vánh, giản lược, những quyết định 
hôn nhân tức thời/ chóng vánh; Tạo nên nhịp điệu cho câu văn, ẩn chứa nỗi day dứt của người viết.
Câu 5:
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích.
Gợi ý:
- “Lời cầu hôn thời đại số" cho thấy giữa thời đại, hiện tượng tảo hôn vẫn gia tăng do chính áp lực cộng 
đồng và định kiến giới:
+ Áp lực cộng đồng và định kiến giới bám rễ rất sâu trong nhận thức của con người, đó chính là lực cản 
đối với đời sống tiến bộ.
+ Nếu không vượt qua được áp lực văn hoá cộng đồng, không phá vỡ những định kiến giới thì sự hiện đại 
hoá, phương tiện số chỉ góp phần khiến các hiện tượng tảo hôn vẫn tồn tại, thậm chí gia tăng nhanh 
chóng..v..
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp: - Vận dụng kiến thức về cách viết đoạn văn nghị luận.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ, dẫn chứng.
Gợi ý:
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng đoạn văn
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ, cộng trừ 100 chữ) của đoạn văn. Học 
sinh có thể trình bảy đoạn văn theo lối diễn dịch/quy nạp/phối hợp/song song.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích được những nguy cơ giản lược kết nối cần thiết trong đời 
sống do mạng xã hội
c. Viết đoạn văn đảm bảo yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng trên cơ sở bảo 
đảm những nội dung sau:
- Mạng xã hội có sức mạnh mở rộng kết nối nhưng mặt khác nó đang giản lược kết nối giữa người với 
người trong đời sống:
+ Giản lược thời gian kết nối của con người- yếu tố quan trọng tạo nên sự bền chặt thay vào đó nó đưa 
con người đến những kết nối nhanh chóng nhưng không có sự thấu hiểu.
+ Giản lược không gian kết nối, bỏ qua những tiếp xúc chân thực của cảm xúc, cảm giác bằng giao tiếp 
ảo, giao tiếp rộng.
- Hậu quả: Kết nối trong đời sống thực thì xa cách, kết nối mới hình thành qua mạng thì thiếu bền chặt, 
thiếu sâu sắc, dễ đứt gãy.
Câu 2:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức đã học về viết bài văn nghị luận.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng.
Có thể triển khai theo hướng:
a. Đảm bảo được yêu cầu về hình thức, bố cục, dung lượng bài văn
- Đảm bảo yêu cầu về hình thức của kiểu bài nghị luận văn học so sánh và dung lượng (khoảng 600 chữ) 
của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
- Phân tích, so sánh được những điểm tương đồng và khác biệt trong tâm trạng hai nhân vật My và Mao 
trong hai đoạn trích.
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu: Học sinh có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, 
bố cục bài văn linh hoạt, so sánh, đánh giá được đối tượng. Sau đây là gợi ý về cách triển khai và một số 
nội dung cụ thể:
3. Giới thiệu chung về 2 tác phẩm, nhân vật và tâm trạng hai nhân vật trong hai đoạn trích.
- Vợ chồng A Phủ, và Tiếng đàn môi sau bờ rào đã ra đời ở hai thời điểm khác nhau nhưng đều viết về 
cuộc sống, thân phận, tính cách của người vùng cao.
- Mị trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài và Mao trong truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đủ của Đỗ Bích 
Thuỷ đều là những nhân vật xuất sắc của hai tác phẩm.
- Khái quát chung về tâm trạng 2 nhân vật.
2. Thân bài * Điểm tương đồng
- Tâm trạng hai nhân vật:
+ Cả hai nhân vật đều toát lên vẻ âm thầm lặng lẽ, kim nên xót xa của người cam chịu: My uống rượu say 
nhưng lại hành động như thói quen của người giam mình trong buồng tối ("lại bước vào buồng", ""lại 
nhìn ra cửa sổ); Mao hiện lên lặng lẽ giam minh sau những cánh cửa nhà chồng, từ hồi lấy Chúng. Cho 
dù không có con, Mao cam phận ở lại làm mẹ Giả, làm người giữ cửa, nuôi những đứa con của Chúng với 
người đàn bà khác.
+ Bên trong hai nhân vật Mị và Mao đều có những khao khát hạnh phúc, yêu thương thầm kín: Mùa xuân 
đến, nghe tiếng sáo Mị nhớ lại tuổi trẻ, Mị uống rượu say và muốn được đi chơi, ý thức được mình còn 
trẻ còn có quyền được sống; còn Mao vẫn khắc khoải về tiếng khèn môi của người thương.
- Nghệ thuật thể hiện tâm trạng nhân vật: Hai đoạn trích đều nắm bắt những mâu thuẫn giữa vẻ bên ngoài 
và tâm trạng bên trong; Thấy được những tác động của ngoại cảnh lên tâm trạng, mượn âm thanh tiếng 
sáo, tiếng khèn để đánh thức tâm tình, nỗi niềm thầm kin (tiếng sáo được miêu tả nhiều lần như âm vang 
của sự sống, tiếng khèn môi được miêu tả như tiếng gọi tình yêu); ngôn ngữ tả cảnh, tả tình đậm bản sắc 
vùng cao (ngôi nhà, tiếng chân ngựa, cửa sổ, sương trắng)
* Điểm khác biệt:
- Về diễn biến tâm trạng:
+ Tâm trạng My được đồng nhất với sức sống tiềm tàng, vận động theo khuynh hướng vươn dậy thoát 
khỏi sự cầm tù cam chịu: Ban đầu nghe tiếng sáo nhớ về tuổi trẻ mùa xuân năm trước, uống rượu say thấy 
"phơi phới trở lại”, ý thức được tuổi trẻ và quyền được đi chơi, xót xa nhớ lại cuộc đời cay đắng.
+ Những nét tâm lí của Mao trong đoạn trích lại có xu hướng kim nền, chịu dựng: “Mao lặng lẽ khóc"; 
Mao lắng nghe tiếng đàn môi, tiếng gọi của tình yêu và cảm thấy xót xa và tiếc nuối. Âm thanh ấy ở bên 
ngoài Mao, “xa xôi” sau bờ rào đá, "buồn rầu, trách móc" cho đến khi "không bao giờ nghe tiếng đàn môi 
dành cho riêng mình nữa."
- Nghệ thuật thể hiện tâm trạng:
+ Tâm trạng của nhân vật Mị được miêu tả sống động hơn. Tô Hoài dịch chuyển điểm nhìn trần thuật, 
nên giọng nhà văn có khi hoà vào giọng bên trong nhân vật. Ngôn ngữ miêu tả giàu chất thơ, tiếng sáo 
được biểu tượng hoa khi là tiếng vọng của quá khứ, khi là sức sống đang hồi sinh.
+ Tâm trạng nhân vật Mao được thể hiện bằng điểm nhìn bên ngoài, giọng văn trần thuật khách quan hơn. 
Tiếng đàn môi vừa cụ thể vừa là biểu tượng cho âm thanh của tình yêu xa xôi và tắt dần trước sự nên chịu 
của số phận.
3. Đánh giá
- Những nét tương đồng trong tâm trạng của hai nhân vật Mị và Mao ở hai đoạn trích phản ánh chân thực 
cuộc sống và tính cách đặc trưng của người phụ nữ H'Mông; Đó cũng là điểm gặp gỡ trong hiểu biết về 
phong tục, con người H'Mông của hai nhà văn.
- Nét riêng trong cách thể hiện khuynh hướng tâm trạng của hai nhân vật cũng như bút pháp miêu tả lại 
phản ánh sự khác biệt của phong cách cá nhân và cảm quan thời đại. Mang cảm quan tích cực của thời đại 
kháng chiến, Tô Hoài đặt nhiều niềm tin vào sức sống khả năng hồi sinh của con người dưới đáy. Là nhà 
văn đương đại, những diễn giải của Đỗ Bích Thuỷ về người vùng cao chân thực giản dị, gắn liền với 
những trải nghiệm văn hoá vùng miền cụ thể

File đính kèm:

  • docxbo_11_de_thi_thu_thpt_quoc_gia_mon_ngu_van_so_son_la_2021_20.docx