Tuyển tập 10 Đề thi giữa kì 1 Ngữ văn 9 năm học 2026-2027 (Kèm ma trận, bản đặc tả & đáp án chi tiết)

docx 83 trang ducduy 26/10/2026 70
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Tuyển tập 10 Đề thi giữa kì 1 Ngữ văn 9 năm học 2026-2027 (Kèm ma trận, bản đặc tả & đáp án chi tiết)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tuyển tập 10 Đề thi giữa kì 1 Ngữ văn 9 năm học 2026-2027 (Kèm ma trận, bản đặc tả & đáp án chi tiết)

Tuyển tập 10 Đề thi giữa kì 1 Ngữ văn 9 năm học 2026-2027 (Kèm ma trận, bản đặc tả & đáp án chi tiết)
 Biên soạn: DeThiHay.net 
 Số câu/ý theo mức độ nhận thức
 Kĩ Nội dung/đơn vị 
 TT Yêu cầu cần đạt/Mức độ đánh giá Thông Vận dụng 
 năng kiến thức Nhận biết Vận dụng
 hiểu cao
 Thông hiểu / Vận dụng / Vận dụng cao - yêu cầu tích hợp
 - C6*: Viết bài nghị luận phân tích thơ song thất lục bát: làm rõ hình tượng 
 Nghị luận phân tích tiếng đàn và hiệu quả nghệ thuật; tổ chức lập luận, dùng dẫn chứng; kết nối sự 
 2 Viết thơ song thất lục biến đổi của hình tượng với yếu tố hình thức khác để đưa ra và bảo vệ nhận - 1 (C6*) 1 (C6*) 1 (C6*)
 bát định chung.
 Năng lực: Năng lực ngôn ngữ và văn học: tạo lập bài nghị luận phân tích thơ; 
 tổ chức lí lẽ, bằng chứng; tổng hợp và bảo vệ cách đọc có căn cứ.
Ghi chú: TNKQ: trắc nghiệm nhiều lựa chọn; TL: tự luận. C là số câu, chữ a, b... là ý. *: câu/ý có điểm ở nhiều mức; chỉ tính một lần trong tổng số câu/ý. Điểm từng mức là phần 
điểm của câu/ý, không phải toàn bộ điểm lặp lại.
 11 Biên soạn: DeThiHay.net 
 ĐỀ THAM KHẢO ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ I - NĂM HỌC 2026-2027
 ĐỀ SỐ 02 Môn: Ngữ văn - Lớp: 9
 Thời gian làm bài: 90 phút
Làm bài trên giấy riêng, ghi rõ số câu. Không sử dụng tài liệu hoặc thiết bị tra cứu. Thời 
gian làm bài không kể thời gian giao đề.
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (5 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu 1, 2, 3, 4, 5.
 CHUYỆN GÃ TRÀ ĐỒNG GIÁNG SINH (trích)
Dương Đức Công tên là Tạc, người phủ Thường tín xứ Sơn nam, về triều vua Huệ tôn nhà 
Lý, ông làm quan coi việc hình án ở trấn Tuyên quang, xét rõ mọi điều oan khuất, khiến các 
án vụ đều được rất công bằng. Vì sự nhân từ phúc hậu, người thời bấy giờ đều gọi là Đức 
công. Năm 50 tuổi, Đức Công vẫn không có con trai, chợt bị ốm nặng rồi chết, hồi lâu lại 
tỉnh, bảo với mọi người rằng:
(Lược đoạn: Đức Công kể mình được đưa đến một tòa ở cõi âm; hai vị áo bào tía xem sổ ghi 
việc của ông rồi nói:)
— Dương gian thật không có người nào được thế, cứu sống cho mọi người nhiều lắm. Chỉ 
tiếc hưởng tuổi không dài và dòng sau không người nối dõi. Người như thế mà không biểu 
dương thì làm sao khuyến khích cho kẻ khác được; ta sẽ phải tâu lên Thượng đế.
Bèn truyền cho Đức Công hẵng xuống tạm nghỉ ở cái hành lang phía đông. Chừng độ nửa 
ngày, hai vị ấy lại sai dẫn Đức Công vào, bảo rằng:
— Nhà ngươi ngày thường vốn có tiếng là người lương thiện. Thượng đế khen ngợi, ban 
cho một người con trai tốt và cho sống lâu thêm hai kỷ nữa. Nên mau về đi mà cố gắng làm 
điều âm đức, đừng bảo là trên cõi minh minh không biết gì đến.
[...]
Bèn cùng nhau chia tay từ biệt, rồi ông bừng tỉnh như một giấc chiêm bao.
Bà vợ cũng nói là đêm qua lúc cuối canh một, có ngôi sao nhỏ rơi vào lòng, lòng bỗng thấy 
rung động. Rồi bà có mang, đầy năm sinh ra được một cậu con trai, đặt tên cho là Thiên 
Tích. Tính Thiên Tích thích uống trà lắm, thường tự ví mình như Lư Đồng, Lục Vũ đời xưa. 
Song thiên tri cao mại, học vấn rộng rãi, phàm sách vở văn chương cổ kim, không cái gì là 
không thiệp liệp. Đức Công mầng mà rằng:
— Thế là ta có dòng giống rồi!
Bèn chuyên đem những nghĩa lý chân chính dạy con. Sau đó 24 năm thì rồi ông vô bệnh mà 
mất; Thiên Tích thương xót rất mực, xa gần ai nấy đều cảm động.
(Nguyễn Dữ, Truyền kỳ mạn lục, Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, Tân Việt, 1952, tr.49–51; lược trích)
Chú thích: hình án: việc xét xử; một kỷ: mười hai năm; âm đức: việc tốt làm kín đáo; minh 
minh: đây chỉ cõi âm; Lư Đồng, Lục Vũ: hai người xưa nổi tiếng thích trà; thiên tri cao mại: 
hiểu biết vốn có cao rộng; thiệp liệp: từng đọc qua; mầng: mừng.
Câu 1. (1,0 điểm)
Đoạn mở đầu cho biết Đức Công làm công việc gì, ở đâu và dưới triều vua nào?
Câu 2. (0,5 điểm)
Chép lại một câu thuộc lời người kể ở phần sau khi Thiên Tích ra đời.
 12 Biên soạn: DeThiHay.net 
Câu 3. (1,0 điểm)
Dựa vào chú thích, hãy giải thích ý nghĩa của việc Thiên Tích tự ví mình như Lư Đồng, Lục 
Vũ trong đoạn trích.
Câu 4. (1,5 điểm)
Việc Đức Công được trở về cõi sống và được ban một người con trai đã tạo bước ngoặt cho 
câu chuyện như thế nào? Qua quan hệ giữa việc ông làm trước đó với bước ngoặt này, em 
hiểu gì về phẩm chất của nhân vật và thái độ của người kể?
Câu 5. (1,0 điểm)
Một bạn định thôi giúp bạn cùng lớp học bài vì những lần giúp trước không được khen 
thưởng. Từ việc làm của Đức Công, em hãy nêu lời khuyên cho bạn, đồng thời chỉ rõ điều 
không nên áp dụng máy móc từ phần thưởng kì ảo trong truyện vào đời sống.
PHẦN II. VIẾT (5 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu 6.
 TỲ BÀ HÀNH (trích)
 Tiếng cao thấp lần chen liền gảy,
 Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
 Trong hoa, oanh ríu rít nhau,
 Suối tuông róc rách chảy mau xuống ghềnh.
 Tiếng suối lạnh, dây mành ngừng tắt,
 Ngừng tắt nên phút bặt tiếng tơ.
 Ôm sầu, đau giận ngẩn ngơ,
 Tiếng tơ lặng lẽ bấy giờ càng hay.
 Bình bạc vỡ tuôn đầy mạch nước,
 Ngựa sắt giong, thét ngược tiếng đao.
 Cung đàn trọn khúc thanh tao,
 Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.
(Bạch Cư Dị, Phan Huy Thực dịch, Tỳ bà hành; theo Wikisource, vi.wikisource.org, truy cập ngày 
26/10/2026)
Bối cảnh: Trong đêm tiễn khách, người kể nghe một phụ nữ gảy đàn tỳ bà. Chú thích: hạt 
châu: hạt ngọc trai; oanh: chim hót hay; dây mành, tiếng tơ: dây đàn, tiếng đàn; ngựa sắt: kị 
binh mặc áo giáp.
Câu 6. (5,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận khoảng 400 chữ phân tích sự biến đổi của hình tượng tiếng đàn trong 
đoạn thơ trên. Từ đó, hãy kết nối sự biến đổi ấy với ít nhất một yếu tố hình thức khác của 
đoạn thơ để đưa ra và bảo vệ nhận định của em về sức biểu cảm của tiếng đàn; tránh chỉ 
diễn giải lần lượt từng dòng thơ.
 13 Biên soạn: DeThiHay.net 
 ĐỀ THAM KHẢO ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM
 ĐỀ SỐ 02 GIỮA HỌC KÌ I - NĂM HỌC 2026-2027
 Môn: Ngữ văn - Lớp: 9
Chấp nhận cách trả lời, quan điểm khác có căn cứ, phù hợp yêu cầu; không bắt trùng lời gợi 
ý. Chấm độc lập các tiêu chí, không cộng/trừ hai lần cùng một thành tích/lỗi. Câu không trả 
lời hoặc không đáp ứng tiêu chí: 0 điểm.
Bài viết khoảng 400 chữ là định hướng dung lượng, không áp phạt cơ học vì lệch số chữ. 
Đánh giá mức đáp ứng theo các tiêu chí thực tế.
Cộng điểm thành phần trên thang 10; chỉ làm tròn tổng cuối cùng đến một chữ số thập phân 
(ví dụ: 7,25 thành 7,3; 7,75 thành 7,8).
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (5 điểm)
Câu 1. (1,0 điểm)
Đức Công coi việc hình án/xét xử án ở trấn Tuyên Quang, vào triều vua Huệ Tôn nhà Lý.
Tiêu chí chấm
 Nội dung / mức đáp ứng Điểm
Xác định công việc coi hình án/xét xử: 0,25 điểm; địa điểm trấn Tuyên Quang: 
0,25 điểm; thời gian triều vua Huệ Tôn nhà Lý: 0,5 điểm. Chỉ ghi thời nhà Lý: 
 1
0,25 điểm ở phần thời gian. Không dùng quê quán Thường Tín thay nơi làm 
quan.
Câu 2. (0,5 điểm)
Có thể chép: “Bèn chuyên đem những nghĩa lý chân chính dạy con.” Hoặc: “Sau đó 24 năm 
thì rồi ông vô bệnh mà mất; Thiên Tích thương xót rất mực, xa gần ai nấy đều cảm động.”
Tiêu chí chấm
 Nội dung / mức đáp ứng Điểm
Chép đúng một câu lời người kể trong phạm vi được hỏi: 0,5 điểm; chấp nhận 
câu khác đúng phạm vi. Không cho điểm nếu chỉ chép lời Đức Công “Thế là ta 
 0,5
có dòng giống rồi!”. Sai sót chép nhỏ không đổi nội dung hoặc chủ thể phát ngôn 
không làm mất điểm.
Câu 3. (1,0 điểm)
Lư Đồng và Lục Vũ gợi những người yêu thích trà. Tự ví mình với họ, Thiên Tích bộc lộ 
niềm say mê uống trà và ý thức về sự đồng điệu trong thú thưởng trà; cách nói gợi sở thích 
qua những nhân vật xưa, không chỉ thông báo tên người.
Tiêu chí chấm
 Nội dung / mức đáp ứng Điểm
Nối được điển cố với sở thích uống trà của Thiên Tích: 0,5 điểm; giải thích thêm 
sắc thái tự ví/tự nhận đồng điệu với những người xưa, khiến sở thích hiện lên 
đậm nét, có màu sắc văn chương: 0,5 điểm. Ở mỗi phần, giải thích đúng nhưng 
 1
còn chung, chưa gắn rõ ngữ cảnh: 0,25 điểm. Chỉ chép lại chú thích, không liên 
hệ Thiên Tích: tối đa 0,25 điểm toàn câu. Không bắt học sinh biết tiểu sử hai 
nhân vật ngoài chú thích.
 14 Biên soạn: DeThiHay.net 
Câu 4. (1,5 điểm)
Đức Công đang chết, chưa có con trai, nay được sống thêm và có Thiên Tích; câu chuyện 
chuyển sang sự ra đời, học hành và việc dạy con. Phần thưởng kì ảo gắn với việc xét rõ oan 
khuất, cứu người, khiến lòng nhân từ và sự công bằng của ông được khẳng định. Người kể 
trân trọng, ngợi ca người làm điều thiện, gửi gắm mong muốn việc tốt được ghi nhận.
Tiêu chí chấm
 Nội dung / mức đáp ứng Điểm
Giải thích chuyển biến từ chết/chưa có con sang sống thêm/có Thiên Tích và mở 
mạch dạy con: 0,5 điểm; chỉ kể biến cố, chưa nêu vai trò chuyển mạch: 0,25 
điểm. Nối việc xét oan/cứu người với phần thưởng để làm rõ nhân từ/công bằng: 
0,5 điểm; chỉ gọi tên phẩm chất hoặc chỉ nêu việc làm: 0,25 điểm. Lí giải thái độ 1,5
ngợi ca, trân trọng việc thiện qua cách sắp xếp nguyên nhân–kết quả: 0,5 điểm; 
chỉ nêu thái độ đúng, chưa có căn cứ: 0,25 điểm. Chấp nhận cách hiểu khác có 
bằng chứng trong đoạn; không coi yếu tố kì ảo là sự thật lịch sử.
Câu 5. (1,0 điểm)
Có thể khuyên tiếp tục giúp trong khả năng và thời gian phù hợp vì hỗ trợ bạn hiểu bài là 
việc có ích, như Đức Công làm việc công bằng để cứu người. Không nên hứa rằng cứ làm 
tốt sẽ được thưởng ngay hoặc luôn được lợi cho bản thân: việc sống lại và được ban con là 
sáng tạo kì ảo. Có thể điều chỉnh cách giúp để không làm hộ hoặc ảnh hưởng việc học của 
mình.
Tiêu chí chấm
 Nội dung / mức đáp ứng Điểm
Lời khuyên phù hợp, có lí lẽ gắn với giá trị từ việc làm của Đức Công: 0,5 điểm; 
lời khuyên hợp lí nhưng chỉ chung chung, chưa có lí lẽ/căn cứ từ truyện: 0,25 
điểm. Chỉ rõ giới hạn vận dụng: phần thưởng kì ảo không phải quy luật bảo đảm 
người tốt sẽ được thưởng trong đời thực, giải thích hợp lí: 0,5 điểm; mới nêu 
 1
đúng một giới hạn nhưng chưa lí giải: 0,25 điểm. Không bắt chọn tiếp tục giúp 
vô điều kiện; chấp nhận lời khuyên đổi cách, giới hạn thời gian giúp khi có lí do 
thuyết phục. Khẳng định chắc chắn được thưởng như truyện: 0 điểm ở phần giới 
hạn.
PHẦN II. VIẾT (5 điểm)
Câu 6. (5,0 điểm)
Gợi ý: tiếng đàn biến hóa từ cao thấp, trong trẻo như hạt châu, tiếng oanh, dòng suối sang 
nghẹn ngừng, lặng tắt rồi bùng vỡ mạnh mẽ như bình bạc, kị binh, tiếng xé lụa. So sánh, từ 
láy và cách lặp “ngừng tắt” cụ thể hóa âm thanh và cảm xúc. Có thể nhận định tiếng đàn là 
một tiếng lòng nhiều cung bậc: vẻ đẹp không chỉ ở âm thanh vang lên mà còn ở khoảng lặng 
dồn nén. Nhận định cần được bảo vệ bằng mối liên hệ giữa các chặng, tránh gán cho người 
đàn một câu chuyện tiểu sử mà đoạn thơ không cung cấp. Đây là một hướng đọc, không 
phải đáp án duy nhất.
 15

File đính kèm:

  • docxtuyen_tap_10_de_thi_giua_ki_1_ngu_van_9_nam_hoc_2026_2027_ke.docx