Bộ 4 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Lào Cai 2022-2026 (Có đáp án
Bạn đang xem tài liệu "Bộ 4 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Lào Cai 2022-2026 (Có đáp án", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 4 Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Lào Cai 2022-2026 (Có đáp án
ĐỀ SỐ 4 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2022 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MÔN: NGỮ VĂN HÀ NỘI Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: Em đi học từ phía cổng trời Em tôi đi ra từ mầu của khói Trên con đường chênh vênh, dốc ngược Trong tiết trời mùa đông Từ cổng trời hút gió Em đến trường vẫn cười cười nói nói Chiếc ô che nghiêng thấp thoáng phía cổng trời Dòng sông sương đậu trên bờ vai, Sương làm ướt áo em Làm ướt cả đá cổng trời Mà tiếng cười vẫn giòn tan trong rét mướt [] Mây vẽ em trong không gian Huyền ảo Không bức tranh nào Đẹp như bức tranh vẽ bằng mây, bằng gió Bằng cả nụ cười Mây không cao bằng vai em tôi Dòng sông sương không ngăn nổi bước chân em Chiếc áo tơi và má em tôi ướt Mà vai em vẫn đeo cặp sách tới lớp, tới trường Tiếng cười còn đọng lại trong sương Em đi học từ phía cổng trời đẹp như bức tranh Tạc vào vách đá Tạc vào màn sương bay bay. (Đỗ Văn Dinh - Thơ đoạt giải cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 2020 - Trang thơ báo Văn nghệ: baovannghe.com.vn) Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? Câu 2. Những từ ngữ, hình ảnh nào trong đoạn thơ miêu tả hoàn cảnh và tâm trạng của “em” khi đi học? Câu 3. Nêu hiệu quả của 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong những dòng thơ sau: Em đi học từ phía cổng trời đẹp như bức tranh Tạc vào vách đá Tạc vào màn sương bay bay. Câu 4. Niềm vui đi học của “em” khi vượt khó đến trường có ý nghĩa gì với anh/chị? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của tinh thần vượt khó. Câu 2. (5,0 điểm) Phân tích vẻ đẹp của hình tượng Sông Đà trong đoạn trích sau; từ đó nhận xét sự độc đáo trong cách nhìn Sông Đà và thiên nhiên Tây Bắc của nhà văn Nguyễn Tuân. “Tôi có bay tạt ngang qua Sông Đà mấy lần, và thấy đó cũng là thêm cho mình một góc độ nhìn một cách nhìn về con sông Tây Bắc hung bạo và trữ tình. Từ trên tàu bay mà nhìn xuống Sông Đà, không ai trong tàu bay nghĩ rằng cái dây thừng ngoằn ngoèo dưới chân mình kia lại chính là cái con sông hằng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô tội vạ với người lái đò Sông Đà. Cũng không ai nghĩ rằng đó là con sông của câu đồng dao thần thoại Sơn Tinh Thuỷ Tinh “Núi cao sông hãy còn dài - Năm năm báo oán đời đời đánh ghen”. Hình như khi mà ta đã quen đọc bản đồ sông núi, thì mỗi lúc ngồi tàu bay trên chiều cao mà nhìn xuống đất nước Tổ quốc bao la, càng thấy quen thuộc với từng nét sông tãi ra trên đại dương đá lờ lờ bóng mây dưới chân mình. Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dòng nước Sông Đà. Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một nguời bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về. Chưa hề bao giờ tôi thấy dòng Sông Đà là đen(1) như thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ. Con Sông Đà gợi cảm. Đối với mỗi người, Sông Đà lại gợi một cách. Đã có lần tôi nhìn Sông Đà như một cố nhân. Chuyến ấy ở rừng đi núi cũng đã hơi lâu, đã thấy thèm chỗ thoáng. Mải bám gót anh liên lạc, quên đi mất là mình sắp đổ ra Sông Đà. Xuống một cái dốc núi, trước mắt thấy loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy. Tôi nhìn cái miếng sáng loé lên một màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Bờ sông Đà, bãi Sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên Sông Đà. Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng. Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, rồi lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy.” Chú thích: (1) Sông Đà đen: người Pháp gọi sông Đà là sông Đen (Rivière Noire). (Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân, SGK Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, trang 190,191) HƯỚNG DẪN CHẤM Phần Câu Nội dung Điểm I. ĐỌC HIỂU 3.0 1 Thể thơ: Tự do 0,75 Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả hoàn cảnh và tâm trạng của “em”: - đi ra từ mầu của khói - con đường chênh vênh, dốc ngược - tiết trời mùa đông - cổng trời hút gió - sương đậu trên vai, làm ướt áo em. 2 0,75 - cười cười nói nói, tiếng cười giòn tan. Hướng dẫn chấm: Trả lời đầy đủ giống đáp án: 0,75 điểm. Trả lời đúng từ 3 đến 5 hình ảnh: 0,5 điểm Trả lời đúng 1 đến 2 hình ảnh: 0,25 điểm Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm. - HS nêu được 01 biện pháp tu từ trong những đáp án sau: So sánh: Em đi học từ phía cổng trời đẹp như bức tranh Ẩn dụ: Em đi học từ phía cổng trời, tạc vào vách đá, màn sương. -Tác dụng: + Ý 1: Làm nổi bật vẻ đẹp hồn nhiên giữa đất trời, ước mơ và nghị lực vượt khó của những học sinh vùng cao trên con đường đến lớp. Em đi học luôn có quê hương nâng đỡ, dìu dắt, em sẽ làm đẹp thêm cho tầm cao và chí lớn của con 3 1,0 người vùng cao. + Ý 2: Làm cho ý thơ dung dị, biểu cảm, khơi gợi những dư âm đẹp đẽ, trong sáng, giọng điệu thơ nhắn nhủ, xúc động. Hướng dẫn chấm: Nêu đúng 01 biện pháp tu từ và hình ảnh thể hiện biện pháp: 0,25 điểm Nêu đúng, đủ tác dụng biện pháp tu từ 0,75 điểm: Ý 1-0,5 điểm, Ý 2: 0,25 điểm. Trả lời sai biện pháp tu từ hoặc không trả lời: 0,0 điểm. - Ý nghĩa: Có thể nêu những ý nghĩa như gợi ý sau hoặc trả lời ý khác nhưng đảm bảo hợp lí: + Tác động và nhắn nhủ tới các bạn HS nghị lực học tập trong mọi điều kiện, hoàn cảnh để đạt được mơ ước. 4 + Là động lực để mọi người cố gắng, phấn đấu thay đổi cuộc đời, xây dựng quê hương, làm đẹp cho quê hương, dân tộc 0,5 + Cảm phục, yêu mến những bạn HS vùng cao tuy con đường đến trường gian khó vẫn hạnh phúc, hồn nhiên với ước mơ trong sáng - HS lí giải ngắn gọn, thuyết phục. II. LÀM VĂN 7.0 Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn khoảng 1 2.0 200 chữ trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của tinh thần vượt khó. a. Đảm bảo cấu trúc đoạn nghị luận: Mở đoạn nêu được vấn đề, Thân đoạn 0.25 triển khai được vấn đề, Kết đoạn kết luận được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: ý nghĩa của tinh thần vượt khó. 0.25 c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề cần nghị luận theo nhiều cách. Nhưng cần làm rõ biểu hiện, ý nghĩa của: ý nghĩa của tinh thần vượt khó. Có thể theo hướng sau: * Giải thích được khái niệm: Tinh thần vượt khó là ý chí, bản lĩnh, là quyết tâm vượt qua khó khăn, gian nan, thử thách của cuộc sống. * Ý nghĩa: - Được tôi rèn ý chí, bản lĩnh để trưởng thành, chủ động trong cuộc sống. - Biến khó khăn thành cơ hội để thử thách bản thân, dám nghĩ, dám làm; sống 1.0 lạc quan không dễ đầu hàng khi gặp chông gai ngáng trở; khẳng định được giá trị của bản thân - Lan tỏa những điều tích cực tới mọi người xung quanh và toàn xã hội, xây dựng tương lai quê hương, đất nước. Làm tôn quý dân tộc mình, xã hội mình đang sống. (Chọn được dẫn chứng tiêu biểu). * Mở rộng vấn đề và rút ra bài học sâu sắc: Phê phán lối sống nhụt chí, dễ xuống tinh thần, đầu hàng khó khăn; tinh thần vượt khó không chỉ thể hiện trong suy nghĩ mà biến thành hành động d. Sáng tạo: Có ý tưởng sáng tạo trong trình bày, diễn đạt, thể hiện quan điểm 0.25 của cá nhân. e. Chính tả, ngữ pháp: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. 0.25 Phân tích vẻ đẹp của hình tượng Sông Đà trong đoạn trích, từ đó nhận xét 2 sự độc đáo trong cách nhìn Sông Đà và thiên nhiên Tây Bắc của nhà văn 5.0 Nguyễn Tuân. a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển 0.25 khai được vấn đề, Kết bài kết luận được vấn đề. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Cảm nhận về hình tượng sông Đà trong 0.25 đoạn văn bản. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm 4.0 *Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân, bài tùy bút Người lái đò Sông 0.5 Đà, hình tượng Sông Đà trong đoạn trích. *Khái quát về tuỳ bút, đoạn trích: Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, vị trí đoạn 0.5 trích * Phân tích vẻ đẹp của hình tượng Sông Đà: Đoạn trích khắc hoạ vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của dòng sông. - Từ điểm nhìn trên cao, trong không gian mây trời Tây Bắc, Sông Đà có vẻ đẹp duyên dáng, mềm mại, yêu kiều. + Dòng chảy của Sông Đà uốn lượn như “cái dây thừng ngoằn ngoèo”. + Sông Đà thướt tha, duyên dáng, đầy nữ tính như mái tóc người thiếu nữ Tây Bắc: Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèo đốt nương xuân. + Sông Đà có sự thay đổi kì diệu màu nước theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng: Mùa xuân - “dòng xanh ngọc bích”; mùa thu – “nước Sông Đà lừ lừ chín 2,25 đỏ”. - Từ điểm nhìn gần hơn - điểm nhìn của một người đi rừng lâu ngày bất ngờ gặp lại con sông, Sông Đà gợi cảm, không còn là kẻ thù hung bạo mà là người bạn, là một “cố nhân”: Sông Đà lãng mạn, thơ mộng, mang đậm vẻ đẹp Đường Thi, được cảm nhận trong niềm vui sướng, xúc động của nhà văn khi được gặp lại dòng sông. - Nghệ thuật: Hình tượng Sông Đà được cảm nhận bằng ngôn ngữ tinh tế, giàu chất thơ, giàu chất tạo hình; câu văn dài, nhịp nhàng; hình ảnh lãng mạn; sử dụng thành công biện pháp tu từ so sánhtạo những liên tưởng độc đáo thú vị, làm nổi bật vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của dòng sông. * Nhận xét sự độc đáo trong cách nhìn Sông Đà và thiên nhiên Tây Bắc của nhà 0,75 văn Nguyễn Tuân. - Nhà văn nhìn Sông Đà không chỉ là một dòng sông tự nhiên, vô tri vô giác mà còn là một sinh thể có sự sống, có tâm hồn, tình cảm. Với Nguyễn Tuân, sông Đà nói riêng, thiên nhiên Tây Bắc nói chung cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa. Vẻ đẹp của Sông Đà hòa quyện vào vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc là chất vàng của mảnh đất này. - Cách nhìn nhận độc đáo này cho thấy Nguyễn Tuân gắn bó sâu nặng, có tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên Tây Bắc, với quê hương đất nước, đồng thời cho thấy được ngòi bút tài hoa, uyên bác, lịch lãm của ông. -Thể hiện sự vận động trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám: Từ cảm hoài vẻ đẹp vang bóng một thời trong quá khứ, nhà văn say mê kiếm tìm vẻ đẹp ở hiện tại bằng niềm tin tưởng vào cuộc sống mới của nhân dân, đất nước. d. Sáng tạo: Có ý tưởng sáng tạo trong trình bày, diễn đạt, thể hiện quan điểm (nhất là quan điểm về phần kết) của cá nhân (phù hợp với đặc trưng tiếp nhận 0.25 văn học). e. Chính tả, ngữ pháp: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. 0.25
File đính kèm:
bo_4_de_thi_thu_thpt_quoc_gia_mon_ngu_van_so_lao_cai_2022_20.docx

