15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn

docx 56 trang Đình Hoàng 12/03/2026 10
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn

15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn
 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn - DeThiHay.net
 HƯỚNG DẪN CHẤM
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Giám khảo căn cứ vào nội dung triển khai và mức độ đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng để cho 
từng ý điểm tối đa hoặc thấp hơn.
- Điểm toàn bài là tổng số điểm của hai câu, không làm tròn số, có thể cho: 0; 0,25; 0,5; 0,75 đến tối đa là 
10 điểm.
- Cần khuyến khích những bài viết có lập luận chặt chẽ, dẫn chứng tiêu biểu, chọn lọc; diễn đạt mạch lạc, 
sáng tạo, truyền cảm, thuyết phục; trình bày sạch đẹp; đạt chuẩn chính tả, ngữ pháp.
B. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
 Câu Nội dung Điểm
 1 Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm 0,75
 Các từ trong câu "Thắp lên hy vọng xua tan những đêm mùa đông" được dùng theo nghĩa 
 2 0,75
 chuyển: thắp, xua tan, đêm mùa đông.
 - Biện pháp tu từ trong câu "Ngày bão giông mong thấy ánh mặt trời": Ẩn dụ. 0,5
 - Hiệu quả sử dụng: "Ngày bão giông" nói đến những ngày dịch Covid-19 hoành hành 1,0
 3
 nguy hiểm; lây nhiễm nhanh, diện rộng; tàn phá môi trường sống, đe dọa sinh mạng con 
 người từng giờ, từng ngày...
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
 Câu Nội dung Điểm
 a. Giới thiệu vấn đề nghị luận
 0,25
 Tinh thần trách nhiệm của mỗi người trong phòng, chống dịch Covid-19.
 b. Giải thích - Bàn luận, mở rộng vấn đề
 - Giải thích khái niệm: Tinh thần trách nhiệm là ý thức, hành vi cố gắng hoàn thành tốt 0,25
 mọi công việc được giao hoặc tự giác nhận công việc về mình (hoàn thành đúng hạn, đạt 
 chất lượng, hiệu quả, yêu cầu...).
 - Biểu hiện của người có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng trong phòng, chống dịch 1,0
 Covid-19: Bản thân tuân thủ và vận động người thân tuân thủ giải pháp/thông điệp “5K” 
 của Bộ Y tế về phòng, chống dịch (Khẩu trang - Khử khuẩn - Khoảng cách - Không tập 
 1 trung - Khai báo y tế); tuân thủ nghiêm các quy định, hướng dẫn của Chính phủ và các 
 cấp, các ngành có thẩm quyền (Ban Chỉ đạo quốc gia, Ban Chỉ đạo tỉnh về phòng, chống 
 dịch Covid-19); tham gia các hoạt động thiện nguyện phù hợp với điều kiện, sức khỏe, 
 năng lực bản thân..., nhằm góp phần cùng cộng đồng nhanh chóng "diệt sạch giặc Covid-
 19"...
 - Phê phán những người có hành vi thiếu ý thức, vô trách nhiệm trước yêu cầu phòng, 
 chống đại dịch: tụ tập đông người; không đeo khẩu trang (khi được nhắc nhở còn phản 
 ứng bằng lời lẽ thiếu văn hóa, phản cảm; chống, hăm dọa, đánh người thi hành công 
 vụ...); khai báo y tế thiếu trung thực, trốn cách ly, giúp người khác nhập cảnh trái phép...
 → Nêu và phân tích dẫn chứng tiêu biểu...
 DeThiHay.net 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn - DeThiHay.net
 c. Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động
 - Nhận thức đại dịch Covid-19 là hiểm họa đáng sợ của toàn cầu, có thể cướp đi sinh 
 mạng hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn người... trong thời gian ngắn; thế giới đang rất khó 
 khăn để khống chế dịch.
 0,5
 - Bản thân không được chủ quan, xem thường nguy cơ của đại dịch; nhưng cũng không 
 quá hốt hoảng, bi quan, bối rối trong việc phòng, chống dịch.
 - Tự giác, tích cực tham gia, phối hợp phòng, chống dịch theo chỉ đạo, hướng dẫn, 
 khuyến cáo của cấp thẩm quyền và cơ quan chuyên môn.
 a. Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Duy, tác phẩm "Ánh trăng" và đoạn 
 0,5
 trích.
 b. Thân bài: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau; tuy nhiên, cần đảm 
 bảo được những ý cơ bản sau:
 - Nêu cảm nhận về đoạn trích:
 + Giới thiệu vị trí đoạn trích, khái quát nội dung của đoạn.
 + Trong diễn biến của thời gian, không gian, sự việc bất thường (đèn điện tắt) chính là 
 bước ngoặt để tác giả bộc lộ cảm xúc, thể hiện chủ đề của tác phẩm (chú ý phân tích rõ 
 các từ "thình lình, vội, đột ngột"). Chính sự xuất hiện đột ngột trong bối cảnh ấy mà gợi 
 ra bao kỷ niệm, nghĩa tình.
 + Hình ảnh của trăng trong phút chốc xuất hiện làm dậy lên trong tâm tư nhà thơ bao kỷ 
 niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh của thiên nhiên đất nước bình dị, hiền 
 hậu "Như là đồng là bể - Như là sông là rừng".
 + Vầng trăng có ý nghĩa biểu tượng cho quá khứ tình nghĩa; vẻ đẹp vĩnh hằng của cuộc 
 sống. "Trăng cứ tròn vành vạnh" như tượng trưng cho quá khứ đẹp, vẹn nguyên chẳng 
 thể phai mờ. "Ánh trăng im phăng phắc" chính là người bạn - nhân chứng nghĩa tình bao 
2
 dung mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ và cũng là đang nhắc nhở mỗi chúng ta. 
 3,5
 Con người có thể vô tình, có thể lãng quên, nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì 
 luộn tròn đầy bất diệt.
 + Cái "giật mình" của nhân vật trữ tình ở cuối bài thơ là cái giật mình của lương tri, là lời 
 tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, 
 tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu.
 + Đoạn thơ thể hiện nét độc đáo với những biện pháp tu từ đặc sắc, giàu chất biểu cảm, 
 chất suy tưởng, tính triết lý sâu xa.
 - Suy nghĩ của bản thân trước vấn đề mà đoạn thơ đặt ra:
 + Cuộc sống hiện đại có mặt tích cực, nhưng cũng dễ làm tha hoá con người mà tất cả 
 điều đó đều bắt đầu từ sự lãng quên, dửng dưng trước quá khứ.
 + Nếu chúng ta thờ ơ, quay lưng hoặc lãng quên quá khứ thì chúng ta có tội với lịch sử 
 và không thể trở thành người tốt, người tử tế.
 + Gợi nhắc đạo lý "uống nước nhớ nguồn" - một đạo lý tốt đẹp đã trở thành nét truyền 
 thống, nhân bản của dân tộc.
 + Liên hệ đến thái độ sống phù hợp của thế hệ trẻ trong quá trình hội nhập hiện nay.
 DeThiHay.net 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn - DeThiHay.net
c. Kết bài:
- Khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. 0,5
- Gợi suy nghĩ về triết lý sống cho người đọc.
d. Đạt chuẩn ngữ pháp (dùng từ, đặt câu) và chính tả. 0,5
 DeThiHay.net 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn - DeThiHay.net
 ĐỀ SỐ 6
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
 KIÊN GIANG NĂM HỌC 2020 - 2021
 MÔN THI: NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
 Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm nay có vẻ khác, len lét đưa nhau 
ra đầu nhà chơi sậm chơi sụi với nhau.
 Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? 
Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu Ông lão nắm chặt hai tay 
lại mà rít lên:
 - Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục 
nhã thế này.
 Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại 
đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả 
mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!...
 (SGK Ngữ văn 9, tập 1, trang 166, NXB GD năm 2017)
Và thực hiện yêu cầu:
Câu 1: (1,0 điểm) Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Do ai sáng tác? Nêu khái quát nội dung của 
đoạn trích.
Câu 2: (1,0 điểm) Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong những câu văn: Nhìn lũ con, tủi thân, 
nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta 
rẻ rúng hắt hủi đấy ư?
Câu 3: (1,0 điểm) Chỉ ra phương thức liên kết và phương tiện liên kết được sử dụng trong những câu văn: 
(1) Ông kiểm điểm từng người trong óc. (2) Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. (3) Họ 
đã ở lại làng, quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm làm điều nhục nhã ấy!...
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về tác động của những lời phê phán, chỉ trích vội 
vàng, thiếu căn cứ trên mạng xã hội.
Câu 2: (5,0 điểm)
Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
 Không có kính không phải vì xe không có kính
 Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
 Ung dung buồng lái ta ngồi,
 Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
 Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
 Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
 DeThiHay.net 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn - DeThiHay.net
 Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
 Như sa như ùa vào buồng lái.
 (Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục)
 DeThiHay.net 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn - DeThiHay.net
 HƯỚNG DẪN CHẤM
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Nắm bắt kỹ nội dung trình bày của thí sinh để đánh giá được một cách tổng quát và chính xác bài làm của 
thí sinh, tránh đếm ý cho điểm.
- Vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm, cân nhắc từng trường hợp cụ thể để xác định mức điểm phù hợp.
- Điểm bài thi cho điểm lẻ đến 0,25 và không làm tròn; khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng 
tạo...
B. ĐÁP ÁN - BIỂU ĐIỂM
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
 Câu Nội dung Điểm
 Đoạn văn trên trích từ tác phẩm Làng 0,25
 Do Kim Lân sáng tác 0,25
 1
 Nội dung: Đoạn trích thể tâm trạng đau xót, tức tối, tủi nhục của ông Hai khi nghe tin làng 
 0,5
 mình theo giặc (chấp nhận cách diễn đạt khác).
 Phép điệp (điệp từ/điệp cấu trúc).
 Hoặc Câu hỏi tu từ 0,5
 2 (HS chỉ cần nêu được tên 1 BPTT thì cho 0,5 điểm)
 Tác dụng: Gợi lên rõ nét trạng thái day dứt, tủi nhục, xót xa của ông Hai. (chấp nhận diễn 
 0,5
 đạt khác nhưng đúng ý)
 - Phép thế: Từ họ ở câu 2 thế cho từng người ở câu 1
 (Tên phương thức: 0,25; chỉ ra phương tiện: 0,25)
 0,5
 * Trường hợp: Học sinh không chỉ ra phép thế ở câu 1-2 mà xác định phép lặp: người – 
 3
 người thì tính 0,25 điểm thay vì tính 0,5 điểm.
 Phép lặp: Từ họ ở câu 2 được lặp lại ở câu 3
 0,5
 (Tên phương thức: 0,25; chỉ ra phương tiện: 0,25)
II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)
 Câu Nội dung Điểm
 a. Cấu trúc: Đoạn văn có thể viết theo kết cấu khác nhau: tổng phân hợp, quy nạp, diễn 
 0,25
 dịch Đoạn văn có câu mở đoạn, các câu triển khai và câu kết đoạn.
 b. Vấn đề nghị luận: Đoạn văn tập trung vào bàn luận tác động của những lời phê phán, 
 0,25
 chỉ trích vội vàng, thiếu căn cứ trên mạng xã hội.
 c. Triển khai: Học sinh lựa chọn và kết hợp các thao tác phù hợp để tập trung làm sáng tỏ 
 hệ lụy của những lời phê phán, chỉ trích vội vàng, thiếu căn cứ trên mạng xã hội. Có thể 
 1
 triển khai các ý theo hướng:
 - Lời phê phán, chỉ trích vội vàng, thiếu căn cứ là lời đánh giá, kết luận, phán xét mang 
 1,0
 tính chê bai không đúng bản chất của sự việc do người viết, người nói chưa xác định được 
 thực hư, chưa suy nghĩ thấu đáo về bản chất của vấn đề.
 - Lời phê phán, chỉ trích không có cơ sở xuất hiện khá phổ biến, nhất là trên mạng xã hội. 
 Mạng xã hội có khả năng lan truyền thông tin nhanh và rộng nên tác động tiêu cực càng
 DeThiHay.net 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn - DeThiHay.net
 lớn và khó khắc phục.
 + Lời chỉ trích, phê phán vội làm tổn thương lớn và dài lâu đến danh dự, lợi ích của cá 
 nhân, tập thể. Người bị chỉ trích sẽ phải sống trong tâm trạng ấm ức, xấu hổ, đau khổ, sợ 
 hãi có thể dẫn đến những hành vi tiêu cực, thậm chí tìm đến cái chết. (Học sinh lấy dẫn 
 chứng làm sáng tỏ).
 + Lời chỉ trích, phê phán sai dẫn đến những mâu thuẫn giữa cá nhân, tập thể, khiến những 
 hận thù gia tăng. Ở học đường có thể dẫn đến bạo lực học đường, ngoài xã hội gây cảnh 
 tàn sát, bất ổn (Học sinh lấy dẫn chứng làm sáng tỏ).
 + Chính người phê phán, chỉ trích vội vàng, thiếu căn cứ cũng mất uy tín khi sự việc được 
 làm rõ
 + Lời chỉ trích, phê phán sai có ảnh hưởng nghiêm trọng là hành vi vi phạm luật an ninh 
 mạng, có thể bị phạt tiền hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
 - Mỗi người cần nâng cao ý thức văn hóa khi tham gia bình luận trên mạng xã hội; không 
 bình luận khi chưa hiểu thấu đáo vấn đề. Cần tỉnh táo trước những lời bình luận và bình 
 tĩnh, khôn ngoan khi mình bị ai đó phê phán, chỉ trích sai.
 d. Chữ viết, chính tả, dùng từ, đặt câu: Viết chữ rõ ràng, đúng chính tả, dùng từ chính 
 0,25
 xác, đặt câu đúng ngữ pháp.
 e. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, độc đáo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn 
 0,25
 đề nghị luận.
 a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Bài văn có bố cục rõ ràng. Mở bài dẫn dắt nêu 
 được tên bài thơ, tên tác giả, đoạn trích: Thân bài được tách đoạn hợp lí trình bày những 
 0,5
 cảm nhận về hai khổ thơ. Kết luận: khép lại vấn đề với những đúc kết, liên hệ, hoặc liên 
 tưởng từ nội dung hai khổ thơ.
 b. Xác định trọng tâm vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của hai khổ đầu 
 0,5
 tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”.
 c. Triển khai vấn đề nghị luận:
 1. Giới thiệu chung về tác giả, bài thơ, vị trí đoạn trích (0,5 điểm)
 - Phạm Tiến Duật thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước. Thơ ông thể hiện 
 hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Giọng thơ sôi nổi, trẻ trung, hồn 
2 nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc.
 - Qua hình ảnh độc đáo - những chiếc xe không kính, bài thơ khắc họa nổi bật hình ảnh 
 người lính lái xe ở Trường Sơn trong thời kỳ chống Mĩ dũng cảm, hiên ngang, lạc quan 
 yêu đời, khao khát giải phóng miền Nam. 3,25
 - Đoạn trích là hai khổ thơ đầu của bài thơ.
 2. Cảm nhận chi tiết đoạn thơ (2,5 điểm)
 2.1. Khổ 1 (1,25 điểm)
 * Hai câu đầu khắc họa hiện thực khốc liệt của chiến tranh:
 - Câu thơ đầu gợi một hình tượng nghệ thuật độc đáo: những chiếc xe không kính. Một 
 hình ảnh rất thực, thực đến trần trụi đã phản ánh sự tàn khốc của chiến tranh. “Bom giật, 
 bom rung” đã phá vỡ kính của xe. 
 DeThiHay.net 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn - DeThiHay.net
 Không có kính không phải vì xe không có kính
 Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
- Câu thơ đậm chất văn xuôi, điệp ngữ “không”, cùng với động từ mạnh “giật”, “rung”, 
tác giả đã lí giải nguyên nhân không có kính của những chiếc xe, đồng thời gợi hình ảnh 
bom rơi đạn nổ đầy hiểm nguy, ác liệt.
- Hình ảnh những chiếc xe không kính đã tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và 
sâu sắc về hiện thực chiến tranh khốc liệt, dữ dội, về cuộc chiến đấu gian khổ mà người 
lính phải trải qua.
* Hai câu sau nổi bật vẻ đẹp kiên cường của người lính lái xe:
 Ung dung buồng lái ta ngồi
 Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
+ Dẫu lái xe giữa hiểm nguy, ác liệt nhưng người lính vẫn giữ tư thế ung dung, hiên ngang, 
bản lĩnh tự tin hiếm có.
+ Cái nhìn của các anh là cái nhìn bao quát, rộng mở “nhìn đất”, “nhìn trời”, vừa trực diện, 
tập trung cao độ “nhìn thẳng”. Các anh nhìn vào khó khăn, gian khổ, hi sinh mà không hề 
run sợ, né tránh.
+ Điệp từ “nhìn” nhấn mạnh sự toàn tâm với nhiệm vụ.
2.2. Khổ 2 (1,0 điểm)
Trong tư thế ung dung ấy, người lính lái xe có những cảm nhận rất riêng về những gian 
khổ cũng như những nét thi vị của đời lính lái xe. Họ được hoà nhập vào thiên nhiên, giao 
cảm, chiêm ngưỡng thế giới bên ngoài, tìm thấy niềm vui, niềm hạnh phúc trong chiến 
đấu:
 Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
 Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
 Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
 Như sa như ùa vào buồng lái.
+ Biện pháp nhân hóa gió xoa vào mắt đắng gợi những vất vả, gian khổ do xe không kính.
+ Điệp từ, nhịp thơ dồn dập, giọng khoẻ khoắn, tràn đầy niềm vui gợi lên một tâm hồn trẻ 
trung, nhạy cảm, yêu đời.
+ Các hình ảnh sao trời, cánh chim gợi chất thơ của cuộc sống kháng chiến và chất thơ 
trong tâm hồn người chiến sĩ. Các anh ngỡ ngàng nhận ra vẻ đẹp của thiên nhiên ngay 
trong lúc lái xe vất vả, căng thẳng. Nhà thơ đã có những phát hiện, khám phá tâm hồn lãng 
mạn của người lính.
3. Khái quát, tổng hợp, nâng cao (0,5 điểm)
- Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên pha chút ngang tàng thể hiện tinh thần bất chấp gian khổ của 
người lính. Giọng thơ tự nhiên khỏe khoắn, hình ảnh thơ độc đáo sáng tạo.
- Bài thơ góp thêm một chân dung đẹp đẽ, mới mẻ về người lính cho thơ ca kháng chiến. 
Bài thơ ca ngợi tuổi trẻ cứu nước, rộng ra là ca ngợi vẻ đẹp của con người Việt Nam trong 
chiến đấu.
 DeThiHay.net 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn - DeThiHay.net
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, độc đáo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn 
 0,25
đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo viết đúng chính tả, dùng từ, đặt câu đúng ngữ 
 0,5
pháp.
* Lưu ý:
- Trên đây chỉ là những ý cơ bản, giám khảo cần căn cứ cụ thể vào bài thi để chấm một 
cách linh hoạt, hợp lý, phù hợp với đặc trưng bộ môn.
- Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, sao cho làm rõ vấn đề được yêu cầu 
trong đề bài, đảm bảo kỹ năng viết văn, nội dung được sắp xếp lô-gic, hợp lý.
- Khuyến khích những bài làm có nhiều phát hiện, sáng tạo trong nội dung và hình thức 
thể hiện. Chấp nhận bài viết không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án nhưng phải có 
căn cứ xác đáng và lí lẽ thuyết phục.
 DeThiHay.net 15 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 tỉnh Kiên Giang môn Văn - DeThiHay.net
 ĐỀ SỐ 7
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
 KIÊN GIANG NĂM HỌC 2019 - 2020
 MÔN THI: NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
Câu 1. (1.5 điểm)
Đọc các ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
a. Gia đình có tới bảy, tám miệng ăn.
b. Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
 (Ca dao)
Các từ in đậm trong các ngữ liệu trên từ nào được dùng theo nghĩa gốc, từ nào được dùng theo nghĩa 
chuyển? Chỉ ra phương thức chuyển nghĩa.
Câu 2. (1.5 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
 Từ hồi về thành phố
 quen ánh điện, cửa gương
 vầng trăng đi qua ngõ
 như người dưng qua đường
a. Khổ thơ trên được trích trong tác phẩm nào? Do ai sáng tác?
b. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai câu thơ:
 vầng trăng đi qua ngõ
 như người dưng qua đường.
Câu 3. (2.0 điểm)
Anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về vai trò, ý nghĩa của lời xin lỗi.
Câu 4. (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn 
Nguyễn Thành Long (SGK Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2017)
 DeThiHay.net

File đính kèm:

  • docx15_de_thi_va_dap_an_ky_tuyen_sinh_lop_10_tinh_kien_giang_mon.docx