13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: 13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn
13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn - DeThiHay.net 2. Bàn luận về tinh thần tự học a. Từ cách giải thích ở trên ta thấy tinh thần tự học có ý nghĩa cao đẹp - Phải tự học mới thấy hết những ý nghĩa lớn lao của công việc này. Tự học giúp ta nhớ lâu và vận dụng những kiến thức đã học một cách hữu ích hơn trong cuộc sống. - Không những thế tự học còn giúp con người trở nên năng động, sáng tạo, không ỷ lại, không phụ thuộc vào người khác. Từ đó biết tự bổ sung những khiếm khuyết của mình để tự hoàn thiện bản thân . - Tự học là một công việc gian khổ, đòi hỏi lòng quyết tâm và sự kiên trì. Càng cố gắng tự học con người càng trau dồi được nhân cách và tri thức của mình. Bù lại, phần thưởng của tự học thật xứng đáng: đó là niềm vui, niềm hạnh phúc khi ta chiếm lĩnh được tri thức. - Biết bao những con người nhờ tự học mà tên tuổi của họ được tạc vào lịch sử. Hồ Chí Minh, Macxim Gorki, Lê Quý Đôn, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền... Nhờ tự học họ đã trở thành những bậc hiền tài, làm rạng danh cho gia đình, quê hương, xứ sở. - Người học sinh có biện pháp tự học là biết làm chủ lấy mình b. Bên cạnh những tấm gương tốt về tinh thần tự học, chúng ta cần phê phán những tư tưởng sai lệch. Luôn ỷ lại, ù lì, lười nhác, không có ý chí, nghị lực, học tới đâu hay tới đó. 3. Bài học nhận thức và hành động Tự học có ý nghĩa quan trọng nên bản thân mỗi chúng ta phải xây dựng cho mình tinh thần tự học trên nền tảng của sự say mê, ham học, ham hiểu biết, giàu khát vọng và kiên trì trên con đường chinh phục tri thức. - Mỗi con người cần có ý chí, nghị lực, chủ động, tích cực, sáng tạo, độc lập trong học tập. Có như vậy mới chiếm lĩnh được tri thức để vươn tới những ước mơ, hoài bão của mình. III. Kết đoạn Đánh giá chung về tinh thần tự học. Cảm nghĩ của bản thân. Câu 2: 1. Mở bài: - Giới thiệu đôi nét về 2 văn bản và hai đoạn thơ: - Mượn lời tâm sự với con, Y Phương đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm nhận sâu sắc về những đức tính tốt đẹp của "người đồng mình" - của con người quê hương miền núi. - Qua hình ảnh bếp lửa, Bằng Việt đã thể hiện sâu sắc tình cảm gia đình, quê hương. 2. Thân bài: a. Khổ thơ bài Bếp lửa: Nỗi nhớ khắc khoải, khôn nguôi về người bà - Lời tự bạch của đứa cháu khi trưởng thành, xa quê hương: Người cháu vẫn cảm thấy ấm áp bởi tình yêu thương vô bờ của bà. - Kết thúc bài thơ tác giả tự vấn "Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?": Niềm tin dai dẳng, nỗi nhớ luôn thường trực trong lòng người cháu; DeThiHay.net 13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn - DeThiHay.net => Tác giả rất thành công trong việc sáng tạo ra hình tượng mang ý nghĩa thực, mang ý nghĩa biểu tượng: Bếp lửa. - Kết hợp miêu tả, biểu cảm, tự sự phù hợp với dòng hồi tưởng và tình cảm của cháu. - Bài thơ chứa đựng triết lý, ý nghĩa thầm kín về tình cảm gia đình, quê hương. b. Khổ thơ bài Nói với con: lời ngợi ca phẩm chất đẹp đẽ của người đồng mình. - Người đồng mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn + "Sống trên đá không chê đá gập gềnh/ Sống trong thung không chê thung nghèo đói/ Sống như sông như suối/ Lên thác xuống ghềnh/ Không lo cực nhọc" → Phép liệt kê với những hình ảnh ẩn dụ "đá gập gềnh", "thung nghèo đói" ⇒ Gợi cuộc sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc => Vận dụng thành ngữ dân gian "Lên thác xuống ghềnh", ý thơ gợi bao nỗi vất vả, lam lũ => Những câu thơ dài ngắn, cùng những thanh trắc tạo ấn tượng về cuộc sống trắc trở, gian nan, đói nghèo của quê hương. - Người đồng mình có ý thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc. - Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúng với người miền núi: "Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con" → Sự tương phản này đã tôn lên tầm vóc của người đồng mình. Họ mộc mạc nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể "thô sơ da thịt" nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí. ⇒ Cùng với ý thức tự lực, tự cường, người đồng mình còn ngời sáng tinh thần tự tôn dân tộc và khát vọng xây dựng quê hương: "Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục". c. Điểm chung của hai đoạn thơ - Hai văn bản tuy viết vào những thời điểm khác nhau nhưng đều thể hiện thấm đẫm tình yêu nước., yêu quê hương. - Đều là những dòng thơ tâm tình nói về tình cảm gia đình thiêng liêng và qua đó thể hiện tình yêu sâu sắc của tác giả với đất nước, với quê hương. 3. Kết bài - Khái quát nội dung và nghệ thuật của 2 đoạn thơ - Cảm nghĩ của bản thân về tình cảm gia đình, quê hương ở mọi thời đại. DeThiHay.net 13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn - DeThiHay.net ĐỀ SỐ 6 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT THỪA THIÊN HUẾ NĂM HỌC 2020 - 2021 Môn thi: Ngữ Văn Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề) I. Phần Đọc hiểu (3,0 điểm) Đọc kĩ hai ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu: Ngữ liệu 1: Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó. (Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn..., NXB Hội nhà văn, 2016, tr.51) Ngữ liệu 2: Sứ mệnh của hoa là nở. Cho dù không có những trụ thể để như nhiều loài hoa khác, cho dù được đặt ở bất cứ đâu, thì cũng hãy bừng nở rực rỡ, bung ra những nét đẹp mà chỉ riêng ta mới có thể mang đến cho đời. [...] Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu. (Kazuko Watanabe, Minh là nắng việc của mình là chói chang, Vũ Thùy Linh dịch, NXB Thế giới, 2018) Câu 1 (0,5 điểm): Hai ngữ liệu trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào? Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập trong câu: Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. Câu 3 (1,0 điểm): Xác định và nêu ngắn gọn tác dụng của phép tu từ trong câu: Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu. Câu 4 (1,0 điểm): Từ hai ngữ liệu trên, em rút ra bài học gì cho bản thân? II. Phần Tập làm văn (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (không qua một trang giấy thi) triển khai luận điểm: Sự tự tin là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa đưa ta đến thành công. DeThiHay.net 13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn - DeThiHay.net Câu 2 (5,0 điểm) Viết bài văn trình bày cảm nhận về các khổ thơ sau: Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dùng qua đường Thình lình đèn điện tắt phòng buyn-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì rưng rưng như là đồng là bể như là sông là rừng Trăng cứ tròn vành vạnh kể chỉ người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. (Nguyễn Duy, Ánh trăng, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, tr.156) ---------HẾT--------- DeThiHay.net 13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn - DeThiHay.net ĐÁP ÁN Phần Nội dung Câu 1: Hai ngữ liệu trên sử dụng phương thức biểu đạt chính: nghị luận. Câu 2: Thành phần biệt lập: chắc chắn - thành phần tình thái. Câu 3: Biện pháp tu từ: ẩn dụ Tác dụng: - Nhấn mạnh mỗi người sẽ có những giá trị riêng đối với cuộc đời và mỗi giá trị I đó đều xứng đáng được trân trọng. Vì vậy hãy phát huy giá trị riêng của chính mình. - Làm cho diễn đạt trở nên sinh động, hấp dẫn. Câu 4: Bài học cho bản thân: - Luôn sống tự tin, tự hào về những điều mình có. - Phát huy những giá trị sẵn có để làm đẹp cho bản thân, cho cuộc đời. Câu 1: 1. Giới thiệu vấn đề: Sự tự tin là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa đưa ra đến thành công. 2. Giải thích vấn đề - Tự tin là tin vào chính bản thân mình, tin vào năng lực của bản thân mình. - Thành công là đạt được kết quả, mục đích như dự định. => "Sự tự tin là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa đưa ra đến thành công" nghĩa là khi bạn tin vào bản thân mình, tin vào năng lực của mình, bạn sẽ gặt hái được thành quả xứng đáng. 3. Phân tích, bàn luận vấn đề - Tại sao nói "Sự tự tin là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa đưa ra đến thành II công." + Khi bạn tin vào chính mình thì có nghĩa là bạn đang cho chính mình cơ hội để học hỏi, tiếp cận với những vấn đề trong cuộc sống. Chỉ khi mình cho chính mình cơ hội để làm tốt các việc thì mọi khả năng mới có thể mở ra. + Tự tin cũng giúp chúng ta trưởng thành, độc lập, tin yêu cuộc sống hơn. + Tự tin giúp chúng ta có được những mối quan hệ tốt trong cuộc sống, được bạn bè và mọi người tin tưởng hơn. - Biểu hiện của người tự tin: + Luôn chủ động trong mọi hoàn cảnh. + Không ngần ngại trước những khó khăn, thử thách. + Luôn sẵn sàng trau dồi tri thức để nâng cao bản thân. DeThiHay.net 13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn - DeThiHay.net ... - Tự tin khác với tự kiêu, nếu tự tin quá dễ bị sa chân vào tự kiêu. - Phê phán những người nhút nhát, thiếu tự tin 4. Liên hệ bản thân và Tổng kết Câu 2: 1. Giới thiệu chung Tác giả: - Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ở làng Quảng Xá, xã Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá. + Năm 1966, ông nhập ngũ vào bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường. + Nguyễn Duy được trao giải nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1973 với chùm thơ bốn bài (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông). Từ giải thưởng này, Nguyễn Duy trở thành một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ và tiếp tục bền bỉ sáng tác. Tác phẩm: - Bài thơ "Ánh trăng" được viết năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, in trong tập "Ánh trăng" - tập thơ của Nguyễn Duy được giải A của Hội nhà văn Việt Nam 1984 - Nguyễn Duy viết bài thơ này khi kết thúc chiến tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được ba năm. Ba năm sống trong hoà bình, không phải ai cũng còn nhớ những gian khổ và ki niệm nghĩa tình trong quá khứ. Bởi vậy "Ánh trăng" như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình của nhà thơ với chính mình, với mọi người về lẽ sống chung thuỷ, nghĩa tình. 2. Phân tích a. Tình cảm của con người với vầng trăng trong quá khứ Tình cảm của tác giả với vầng trăng trong hiện tại - Người lính từ những cánh rừng đơn sơ trở về thành phố, bước vào cuộc sống mới, cuộc sống hòa bình, tự do, cách nói hoán dụ "ánh điện, cửa gương" chi tới một cuộc sống tiện nghi, hiện đại, nhưng nó hoàn toàn tách biệt, xa rời thiên nhiên. - Trong cuộc sống hiện tại đó, một cách vô tình, sự thay đổi đến với con người từ từ, khó nhận biết. Trăng xưa vẫn vậy, vẫn đi qua ngõ, vẫn sát cánh bên con người, nhưng bởi lòng người đã lãng quên nên vầng trăng "Tri kỉ", "tình nghĩa" ngày nào nay đã trở thành "người dưng qua đường". Phép so sánh đã cho thấy sự thay đổi đến đau lòng, câu thơ ngắn gọn mà ý tứ diễn đạt thì vô cùng. Sự ồn ã, xa hoa của phố phường, công việc mưu sinh rồi những nhu cầu vật chất... đã lôi kéo DeThiHay.net 13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn - DeThiHay.net con người ra khỏi những giá trị tinh thần của một thời. Sự vô tâm của con người đã khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. => Trong cuộc sống hiện đại dù vô tình, con người đã trở thành kẻ bạc bẽo, hoàn toàn quên lãng vầng trăng. Cuộc hội ngộ giữa người và trăng - Tình huống bất ngờ làm thay đổi mạch cảm xúc: + Trăng xuất hiện đánh thức bao kỉ niệm, gợi nên bao suy ngẫm: "Thình lình đèn điện tắt ...vầng trăng tròn" + Ba khổ thơ đầu, điệp từ "hồi" được lặp lại khiến giọng thơ bình thường, đều đặn, thủ thi, sang khổ thơ thứ 4, giọng thơ đột ngột cất cao trước một tình huống bất ngờ. Bằng phép đảo ngữ "thình lình đèn điện tắt", cuộc sống xa hoa, hiện đại tạm thời biến mất, theo phản xạ tìm ánh sáng từ trong bóng tối, con người vội bật tung cửa sổ và bất ngờ gặp lại vầng trăng xưa. Trăng vẫn bên cửa sổ. Tròn vành vạnh, vẫn tình nghĩa, thủy chung như ngày nào. Phép đảo ngữ "đột ngột" càng nhấn mạnh sự bất ngờ thức tỉnh sau một chặng đường dài lãng quên. => Đến đây người lính từng trải như Nguyễn Duy đã chợt nhận ra một điều: cuộc đời mỗi con người giống như một dòng chảy có những quanh co, uốn khúc nhưng phải qua những khúc quanh, qua những biến cố, con người mới nhận ra đâu là chân giá trị của cuộc sống. - Tình huống bất ngờ xảy đến khiến dòng chảy cuộc đời như ngừng lại, thời gian cũng như ngừng trôi trong cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn, khi người và trăng mặt đối mặt. Con người như lặng đi trong nỗi xúc động mãnh liệt. Người đối diện với trăng trong tư thế có phần thành kính "ngửa mặt lên nhìn mặt "có cái gì rưng rưng" + Từ "mặt" là từ nhiều nghĩa, tác giả đối mặt vầng trăng hay cũng chính là đối diện đàm tâm, tự soi vào chính mình, soi vào quá khứ, nhìn một thời lãng quên vô tình, bạc bẽo. + Trong cuộc đối diện không lười đó, gặp lại người bạn tri ki thuở xưa, con người "rưng rưng" xúc động. "Rưng rưng" là cảm xúc dâng trào đến nghẹn lời, đến muốn khóc. + Trong sự xúc động dâng cao đó, cả một quãng thời gian rất xa sống dậy: "Như là đồng là bể như là sông là rừng" Điệp ngữ "Như là", phép liệt kê: đồng, sông, bể, rừng xuất hiện một lần nữa, cùng nhịp thơ nhanh như nhiều lớp sóng của hoài niệm ùa về. Phép so sánh để DeThiHay.net 13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn - DeThiHay.net khẳng định cái khoảnh khắc "rưng rưng" ấy, chính là tuổi thơ êm đềm, là những năm tháng chiến đấu gian lao, vất vả, ở đó người luôn có trăng. => Khổ thơ là sự xúc động chân thành sâu lắng. Những suy ngẫm của tác giả. - Khép lại bài thơ Ánh trăng, Nguyễn Duy đã thể hiện rất rõ ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng và từ đó tác giả nêu ra bài học triết lí gợi nhắc thái độ sống đối với mỗi người "Trăng cứ tròn vành vạnh kể chi người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình." - Trăng xưa vẫn vậy, vẫn tròn đầy, vẹn nguyên thủy chung, từ "cứ", "kể chi" còn cho thấy thái độ bao dung, độ lượng của vầng trăng nhưng đối lập với hình ảnh trăng tròn vành vạnh là con người vô tình, đổi thay. - Trăng như một người bạn với ánh nhìn im phăng phắc, đó là cái nhìn nghiêm nghị dù rất bao dung, không một lời trách cứ, Trăng như một người bạn bao dung, nhân hậu, độ lượng - Đến đây "Vầng trăng" đã được thay bằng "Ánh trăng" để nhấn mạnh về ánh sáng. Ánh sáng của lương tri con người soi rọi những góc khuất tối trong tâm hồn người. Ánh sáng soi đường cho con người trở về về với con đường thủy chung, tình nghĩa - Trước cái nhìn nghiêm nghị, bao dung của người bạn thủy chung, ân tình, trước ánh sáng kì diệu của vầng trăng, con người phải "giật mình". Giật mình để nhìn lại chính mình. Giật mình để tự vấn lương tâm, để soi vào chính mình, để thấy những tháng ngày qua mình đã vô tình bạc bẽo, để hoàn thiện bản thân. Đây là cái giật mình vô cùng đáng quý, đáng trân trọng. => Như vậy, qua khổ thơ cuối, hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa biểu tượng sâu xa. Trăng là vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, trăng là đồng chí, đồng đội, là tấm lòng bao dung, nhân hậu của nhân dân. Trăng là quá khứ vất vả, gian lao nhưng tình nghĩa. Trăng là cội nguồn, là quê hương, đất nước. Từ hình ảnh vầng trăng, tác giả gợi nhắc người đọc một bài học triết lí sâu xa. Đó là thái độ sống "Uống nước nhớ nguồn", ân nghĩa thủy chung. => Bài học về cách sống của bản thân: - Luôn sống thủy chung, tình nghĩa, nghĩ nhớ công ơn thế hệ trước và những người giúp đỡ mình. - Sống độ lượng, bao dùng. - Luôn biết yêu thương, quan tâm với mọi người. DeThiHay.net 13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn - DeThiHay.net 3. Tổng kết Nội dung: - Bài thơ là lời nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước, bình dị, hiền hậu. - Từ đó, gợi nhắc người đọc thái độ sống "uống nước nhớ nguồn", ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ. Nghệ thuật: - Giọng điệu tâm tình, tự nhiên kết hợp giữa yếu tố trữ tình và tự sự. - Hình ảnh giàu tính biểu cảm: trăng giàu ý nghĩa biểu tượng. DeThiHay.net 13 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Huế môn Văn - DeThiHay.net ĐỀ SỐ 7 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT THỪA THIÊN HUẾ NĂM HỌC 2019 - 2020 Môn thi: Ngữ Văn Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề) I. Phần đọc hiểu: (3,0 điểm) Đọc kĩ ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu biên dưới: Âm nhạc là phương tiện chuyển tới cảm xúc tuyệt vời nhất, trọn vẹn nhất, giúp chúng ta cảm nhận được từng ngõ ngách sâu thẳm nhất của tâm hồn [...] Âm nhạc là chất xúc tác lãng mạn, thi vị làm khuấy động xúc cảm. Thử hình dung những thước phim lãng mạn sẽ buồn tẻ, vô hồn đến nhường nào nếu không có giai điệu của những bản tình ca. Có một câu nói mà tôi rất tâm đắc" từng nốt nhạc chạm vào da thịt tôi, vuốt ve xoa dịu nỗi cô đơn tưởng như đá hóa thạch trong tâm hồn". Âm nhạc là một người bạn thủy chung, biết chia sẻ. Khi buồn , nó là liều thuốc xoa dịu nỗi sầu, làm tâm hồn nhẹ nhàng, thanh thản..Khi vui, nó lại là chất xúc tác màu hồng tô vẽ cảm xúc, giúp ta cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của cuộc sống (Dr Bernie S Siegel, Quà tặng cuộc sống, biên dịch Thu Quỳnh - Hạnh Nguyên, NXHTH TP HCM, tr. 11) Câu 1: (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của ngữ liệu trên Câu 2: (0,5 điểm) Đặt một nhan đề phù hợp cho ngữ liệu: Câu 3: (1,0 điểm) Chỉ rõ hai phép liên kết về hình thức có trong ngữ liệu. Câu 4: (1,0 điểm) Xác định và nêu ngắn gọn tác dụng của biện pháp tu từ từ vựng trong câu : Âm nhạc là một người bạn thủy chung, biết chia sẻ. II. Phần tập làm văn (7,0 điểm) Câu 1: (2,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (không quá một trong giấy thi) bàn về ý nghĩa của tinh thần lạc quan đối với cuộc sống của mỗi người. Câu 2: (5 điểm) Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo. (Chính Hữu, Đồng chí, ngữ văn 9 tập 1. NXB Giáo dục Việt Nam. 2016, tr 129) Không có kính không phải xe không có kính DeThiHay.net
File đính kèm:
13_de_thi_va_dap_an_ky_tuyen_sinh_lop_10_hue_mon_van.docx

