12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn

docx 52 trang Đăng Đăng 11/03/2026 60
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn

12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn
 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn - DeThiHay.net
+ Hệ thống hình ảnh: “lái gió”, “buồm trăng”, “mây cao”, “biển bằng” → con thuyền như mang sinh lực 
của đất trời để đánh cá trên biển.
- Gợi hình tượng người lao động trên biển:
+ Tầm vóc lớn lao sánh cùng vũ trụ.
+ Làm chủ cả vũ trụ.
* Sự giàu có, phong phú, đẹp đẽ, bao dung của biển cả:
- Liệt kê: “cá nhụ”, “cá chim”:
+ Là những loài cá quý giá nhất → sự hào phóng của biển cả.
+ Tô đậm ấn tượng về một vùng biển giàu có với sản vật phong phú.
- Hình ảnh miêu tả: “cá songđuốc đen hồng”:
+ Tả thực cá song dài có những chấm nhỏ màu đen hồng.
+ Liên tưởng đến ngọn đuốc làm sáng cả biển đêm.
- Đại từ “em” → nhân hóa câu thơ:
+ Cá không phải là đối tượng để đánh bắt mà là đối tượng để chinh phục.
+ Gợi hành trình chinh phục tự nhiên của co người.
- Nhân hóa: “đêm thở”, “sao lùa” → Vẻ đẹp của đêm trăng trên biển. Ánh trăng sao lồng vào sóng nước 
nên khi cá quẫy ta có cảm giác không phỉa mặt nước đang xao động mà là màn đêm đang thở.
- So sánh “như lòng mẹ”:
+ Là “nguồn sữa”, nguồn tài nguyên khổng lồ nuôi sống con người.
+ Ấm áp, bao dung, gần gũi, yêu thương con người như lòng mẹ.
-> Ẩn sau những câu thơ này là niềm hạnh phúc và lòng biết ơn của con người đối với ân tình của thiên 
nhiên, đất nước.
3. Kết bài
- Nội dung:
+ Tái hiện thành công vẻ đẹp thể hiện khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, đẹp đẽ, lãng mạn của biển cả và 
những người lao động mới.
+ Khám phá, ngợi ca: Sự giàu có, hào phóng của thiên nhiên, đất nước và tầm vóc lớn lao của nhân dân 
lao động trong công cuộc xây dựng đất nước.
- Nghệ thuật:
+ Ngòi bút tràn đầy cảm hứng vũ trụ, sự chan hòa giữa con người và thiên nhiên.
+ Hình ảnh phong phú.
+ Âm hưởng lạc quan phơi phới.
 DeThiHay.net 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn - DeThiHay.net
 ĐỀ SỐ 5
 ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT 
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 
 NĂM HỌC 2021-2022
 THÁI BÌNH
 MÔN: NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC
 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
 MẸ
 (1) Con nhớ ngày xưa mẹ hát:
 ... "Hoa sen lặng lẽ dưới đầm
 Hương bay dịu dàng bát ngát
 Thơm tho không gian, thời gian"...
 (2) Mẹ nghèo như đóa hoa sen
 Năm tháng âm thầm lặng lẽ,
 Giọt máu hòa theo dòng lệ
 Hương đời mẹ ướp cho con
 (3) Khi con thành đóa hoa thơm
 Đời mẹ lắt lay chiếc bóng,
 Con đi... chân trời gió lộng
 Mẹ về... nằng quái chiều hôm.
 (4) Sen đã tàn sau mùa hạ
 Mẹ đã lìa xa cõi đời,
 Sen tàn rồi sen lại nở
 Mẹ thành ngôi sao lên trời.
 (Dẫn theo Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường, 
 Viễn Phương, Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điểm, NXB Giáo dục Việt Nam, 1999, trang 37)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của bài thơ trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ nói giảm nói tránh trong hai câu thơ: "Sen đã tàn sau mùa hạ/Mẹ
đã lìa xa cõi đời"
Câu 3. (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về hai câu thơ: "Khi con thành đóa hoa thơm/Đời mẹ lắt lạy chiếc 
bóng"
Câu 4. (1,0 điểm) Từ khổ thơ thứ 2, em cảm nhận được gì về cuộc sống và phẩm chất của người mẹ? 
(Trình bày khoảng 3 - 5 dòng)
PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của em về sự cần thiết của lối sống có 
trách nhiệm ở mỗi người.
Câu 2. (5,0 điểm)
Trình bày cảm nhận của em về nhân vật Phương Định trong đoạn trích sau:
 DeThiHay.net 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn - DeThiHay.net
"Vẳng lặng đến phát sợ. Cây còn lại xơ xác. Đất nóng. Khói đen vật vờ từng cụm trong không trung, che 
đi những gì từ xa. Các anh cao xạ có nhìn thấy chúng tôi không? Chắc có, các anh ấy có những cái ống 
nhòm có thể thu cả trái đất vào tầm mắt. Tôi đến gần quả bom. Cảm thấy có ánh mắt các chiến sĩ dõi 
theo mình, tôi không sợ nữa. Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái kiểu đi khom khi có thể cử 
đàng hoàng mà bước tới.
Quả bom nằm lạnh lùng trên một bụi cây khô, một đầu vùi xuống đất. Đầu này có vẽ hai vòng tròn màu 
vàng
Tôi dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom. Đất rắn. Những hòn sỏi theo tay tôi bay ra hai bên. Thỉnh 
thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người, cứa vào da thịt tôi. Tôi rùng 
mình và bỗng thấy tại sao mình làm quá chậm. Nhanh lên một tí! Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng 
lành. Hoặc là nóng từ bên trong quả bom. Hoặc là mặt trời nung nóng.
Chị Thao thổi còi. Như thế là đã hai mươi phút qua. Tôi cẩn thận bỏ gói thuốc mìn xuống cái lỗ đã đào, 
châm ngòi. Dây mìn dài, cong, mềm. Tôi khỏa đất rồi chạy lại chỗ ẩn nấp của mình.
Hồi còi thứ hai của chị Thao. Tôi nép người vào bức tường đất, nhìn đồng hồ. Không có gió. Tim tôi 
cũng đập không rõ. Dường như vật duy nhất vẫn bình tĩnh, phớt lờ mọi biến động chung là chiếc kim 
đồng hồ. Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng, đè lên những con số vĩnh cửu. Còn đằng kia, lửa đang chui 
bên trong cái dây mìn, chui vào ruột quả bom.....
Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần. Tôi có nghĩ tới cái chết. Nhưng 
một cái chết mờ nhạt, không cụ thể. Còn cái chính: liệu mìn có nổ, bom có nổ không? Không thì làm cách 
nào để châm mìn lần thứ hai? Tôi nghĩ thế, nghĩ thêm: đứng cẩn thận, mành bom ghim vào cánh tay thì 
khá phiền. Và mồ hôi thấm vào môi tôi, mần mặn, cát lạo xạo trong miệng”
 (Trích Những ngôi sao xa xôi, Lê Minh Khuê, 
 Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, trang 117,118)
 ------HẾT-----
 DeThiHay.net 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn - DeThiHay.net
 GỢI Ý LÀM BÀI
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của bài thơ trên là biểu cảm.
Câu 2. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh được thể hiện trong hai câu thơ:
- Sen đã tàn sau mùa hạ: Từ tàn thể hiện sự kết thúc.
- Mẹ đã lìa xa cõi đời: Từ lìa xa là từ ngữ mang ý nghĩa nói giảm nói tránh, sự việc mẹ đã qua đời.
Câu 3. Hai câu thơ: Khi con thành đóa hoa thơm/ Đời mẹ lắt lay chiếc bóng có nghĩa: Khi con lớn lên, 
trưởng thành, tuổi mẹ ngày càng cao, mẹ già đi theo năm tháng, mẹ đã đến tuổi xế chiều.
Câu 4. Trong khổ thơ thứ hai hình ảnh người mẹ hiện lên với những phẩm chất:
- Là người phụ nữ với những phẩm chất cao đẹp được ví như đóa hoa sen giữa bùn lầy.
- Cuộc sống tuy nghèo khổ nhưng mẹ vẫn âm thầm lặng lẽ, tần tảo nuôi con, vì tương lai của con, mẹ 
dành hết cả cuộc đời cho con.
PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1.
1. Về hình thức
- Xác định đúng yêu cầu cần nghị luận.
- Là đoạn văn đầy đủ dung lượng.
- Bài làm sử dụng linh hoạt các thao tác lập luận, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, lỗi ngữ pháp.
- Bài làm sáng tạo và giàu cảm xúc.
2. Về nội dung
a. Xác định vấn đề cần nghị luận
Sự cần thiết của lối sống có trách nhiệm ở mỗi người.
b. Triển khai vấn đề
- Giải thích:
+ Sự cần thiết là: rất quan trọng, cần đến mức không thể nào không có.
+ Lối sống có trách nhiệm là lối sống lành mạnh, hoàn thiện công việc mình được giao, giữ lời hứa, chịu 
trách nhiệm với những việc mình làm, luôn nghĩ về công việc của mình đến những người xung quanh.
- Sự cần thiết của lối sống có trách nhiệm ở mỗi người:
+ Lối sống có trách nhiệm ở mỗi người giúp chúng ta hoàn thành tốt công việc và nhiệm vụ.
+ Lối sống có trách nhiệm giúp chúng ta suy nghĩ sâu xa, nhiều chiều, giúp chúng ta hoàn thiện bản thân, 
trưởng thành hơn trong cuộc sống.
+ Lối sống có trách nhiệm giúp chúng ta thành công trong cuộc sống.
+ Lối sống có trách nhiệm giúp chúng ta tạo được lòng tin của những người xung quanh và góp phần tạo 
ra xã hội văn minh hơn.
- Liên hệ bản thân:
Liên hệ đến hành động và suy nghĩ của bản thân trong việc học tập và rèn luyện,...
Câu 2.
1. Về hình thức
- Xác định đúng yêu cầu cần nghị luận.
- Bài viết đảm bảo đầy đủ bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài.
 DeThiHay.net 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn - DeThiHay.net
- Bài làm sử dụng linh hoạt các thao tác lập luận, không mắc lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, lỗi ngữ pháp.
- Bài làm sáng tạo và giàu cảm xúc.
2. Về nội dung
a. Xác định vấn đề cần nghị luận
Cảm nhận về nhân vật Phương Định trong đoạn trích của tác phẩm Những ngôi sao xa xôi.
b. Triển khai vấn đề
b. 1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu nhân vật, đoạn trích và vấn đề nghị luận.
b.2. Thân bài
Cảm nhận về nhân vật Phương Định:
* Khi đến gần bom:
- Mặc dù phá bom là một công việc quen thuộc nhưng mỗi lần phá bom là một lần thử thách thần kinh.
- Lúc đầu khi thực hiện phá bom cô khá căng thẳng, hồi hộp và lo lắng. Nhưng rồi cảm thấy có ánh mắt 
dõi theo của các chiến sĩ, cô không sợ nữa. Cô nghĩ: “Tôi sẽ không đi khom. Các anh ấy không thích cái 
kiểu đi khom khi có thể cứ đàng hoàng mà bước tới
→ Lòng dũng cảm của cô được kích thích bởi sự tự trọng.
- Tâm lý nhân vật được miêu tả cụ thể đến từng ý nghĩ.
- Và rồi cô bình tĩnh tự tin thực hiện từng thao tác phá bom.
* Khi phá bom:
- Đầu tiên cô cẩn thận dùng xẻng, cẩn thận đào đất xung quanh quả bom.
Lưỡi xẻng chạm vào quả bom tạo thành tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt ⇒ Nghệ thuật ẩn dụ 
chuyển đổi cảm giác.
- Cô rùng mình khi thấy vỏ quả bom nóng, rùng mình khi thấy làm chậm và tự hối thúc mình làm nhanh 
hơn.
- Tiếp đó cô bỏ gói mìn vào hố, châm ngòi và chạy vào nơi ẩn nấp.
* Khi chờ bom nổ:
- Cô quan sát đồng hồ.
- Nghĩ tới cái chết nhưng chỉ thoáng qua để rồi nhường chỗ cho ý nghĩ làm thế nào để phá được bom.
⇒ Cô luôn đặt trách nhiệm lên hàng đầu, lên trên cả tính mạng của mình.
- Nghệ thuật:
+ Ngôn ngữ độc thoại nội tâm đã miêu tả tâm lý nhân vật cụ thể và tinh tế đến từng cảm giác, từng ý 
nghĩ.
+ Những câu văn ngắn và nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác đã khắc họa không khí căng thẳng ác liệt 
của chiến trường và cả tâm trạng của Phương Định khi phá bom.
→ Có thể nói qua tác phẩm Những ngôi sao xa xôi, Lê Minh Khuê đã làm ngời sáng một Phương Định 
bình tĩnh, tự tin, dũng cảm, kiên cường khi phá bom.
c. 2. Kết bài:
- Nêu cảm nhận chung của em về đoạn trích
- Liên hệ đến nhận thức và hành động của bản thân.
 DeThiHay.net 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn - DeThiHay.net
 ĐỀ SỐ 6
 ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT 
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 
 NĂM HỌC 2020-2021
 THÁI BÌNH
 MÔN: NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC
 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
"Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo”. Đạo là lẽ đối xử hằng ngày 
giữa mọi người. Kẻ đi học là học điều ấy. Nước Việt ta, từ khi lập quốc đến giờ, nền chính học đã bị thất 
truyền. Người ta đua nhau lổi học hình thức hồng cầu danh lợi, không còn biết đến tam cương, ngũ 
thường. Chúa tầm thường, thần nịnh hót. Nước mất, nhà tan đều do những điều tệ hại ấy.
 (Trích Bàn luận về phép học, La Sơn Phu Từ Nguyễn Thiếp, 
 Ngữ văn 8, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. (0,5 điểm) Theo tác giả, "đạo" được hiểu là gì?
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra phép liên kết được sử dụng trong những câu văn sau: "Ngọc không mài, không 
thành đồ vật, người không học, không biết rõ đạo". Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người. Kẻ đi học 
là học điều ấy.
Câu 4. (1,0 điểm) Em hiểu thế nào là "lối học hình thức"?
Câu 5. (1,0 điểm) Theo em, "lối học hình thức" có dẫn đến "nước mất, nhà tan" không? Vì sao?
PHẦN II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết 
của lối sống giản dị.
Câu 2. (4,0 điểm) Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
 Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
 Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
 Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
 Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
 Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
 Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
 Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
 Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa!
 (Trích Bếp lửa, Bằng Việt, Ngữ văn 9, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019)
 DeThiHay.net 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn - DeThiHay.net
 GỢI Ý LÀM BÀI 
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Nghị luận
Câu 2. Theo tác giả “đạo” là lẽ đối xử hàng ngày với mọi người.
Câu 3. Phép liên kết được sử dụng: Phép lặp, Phép thế
Câu 4. “Lối học hình thức” là lối học chỉ học từng câu, từng chữ mà không hiểu về nội dung, ý nghĩa mà 
mỗi văn bản, tác giả muốn truyền tải.
Câu 5.
Gợi ý:
- Lối học hình thức sẽ dẫn đến nước mất nhà tan.
- Vì đây là lối học chỉ nắm được cái bề ngoài, không hiểu cốt lõi. Cái gốc mà không nắm được, chỉ nắm 
được phần ngọn thì lâu dần cũng chết yểu, nước cũng mất, nhà sẽ tan.
PHẦN II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1:
1. Giới thiệu vấn đề: sự cần thiết của lối sống giản dị
2. Giải thích
- Sống giản dị là sống một cách đơn giản, tự nhiên, không cầu kì, phô trương.
⇒ Lối sống giản dị là điều cần thiết đối với mỗi người.
3. Bàn luận vấn đề
- Sự cần thiết của lối sống giản dị:
+ Lối sống giản dị khiến cho mối quan hệ trở nên gần gũi, thân thiết hơn.
+ Lối sống giản dị cho tâm hồn ta thư thản, thanh thản, yêu đời hơn.
+ Sống giản dị giúp bạn có thời gian yêu thương, quan tâm chăm sóc, những người xung quanh.
- Mở rộng, phản đề:
- Lối sống giản dị hoàn toàn khác với lối sống cẩu thả, lạc hậu, gò bó, khuôn mẫu; giản dị cũng không 
đồng nghĩa với tiết kiệm, hà tiện... giản dị phù hợp với điều kiện, với hoàn cảnh vẫn thể hiện được sự tao 
nhã, thanh lịch, văn hóa.
- Phê phán lối sống xa hoa, đua đòi hay giản dị một cách giả tạo.
- Để sống giản dị, con người phải trải qua sự rèn luyện, cần một năng lực sống, quyết tâm cao, cũng cần 
hoà mình vào cuộc sống đế sống và cảm nhận, cần loại bỏ lòng tham và bù đắp tình yêu cuộc sống. Đó là 
cách để tránh mọi cám dỗ, giảm áp lực tinh thần và nâng cao bản lĩnh văn hoá.
4. Liên hệ bản thân và tổng kết.
Câu 2:
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Nhà thơ Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng.
- Sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Bằng Việt làm thơ từ đầu những 
năm 60 của thế kỷ XX và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu 
nước.
 DeThiHay.net 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn - DeThiHay.net
- Phong cách sáng tác: Thơ Bằng Việt thường nghiêng về một lời tâm sự, một sự trao đổi suy nghĩ, gây 
được cảm giác gần gũi, thân thiết đối với người đọc. Thơ ông thường sâu lắng, trầm tư thích hợp với 
người đọc thơ trong sự trầm tĩnh, vắng lặng.
- Giải thưởng: Tác giả đã được nhận giải nhất văn học – nghệ thuật Hà Nội năm 1967 với bài thơ “Trở lại 
trái tim mình”; giải thưởng chính thức về dịch thuật văn học quốc tế và phát triển giao lưu văn hóa quốc 
tế do Quỹ Hòa Bình (Liên Xô) trao tặng năm 1982.
Tác phẩm:
- Bài thơ được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành luật ở nước ngoài.
- Bài thơ được đưa vào tập “Hương cây – Bếp lửa” (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt in chung với 
Lưu Quang Vũ.
- Khổ thơ nói lên những suy nghĩ về cuộc đời bà và bếp lửa.
2. Phân tích, cảm nhận
Suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa:
- Suốt một đời lận đận, vất vả, bà đã và vẫn đang làm công việc nhóm lửa:
 “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
 Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
 Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”
+ Từ láy “lận đận” với điệp từ “nắng mưa” nhấn mạnh cháu chưa từng và chẳng thể nào quên cuộc đời 
bà, một cuộc đời đầy lo toan, vất vả.
+ Khôn lớn trưởng thành, cháu càng thấu hiểu những ý nghĩa cao cả, thiêng liêng từ một công việc rất đỗi 
bình dị của bà: nhóm lửa. Điệp từ nhóm điệp lại 4 lần với hai lớp nghĩa. Bà đã làm công việc khởi đầu 
của một ngày: nhóm bếp lửa mỗi sớm mai và làm công việc khởi đầu của một đời, đó là bồi đắp tâm hồn, 
thắp lên những tình cảm cao quý. Từ “nhóm” thứ nhất hiểu theo nghĩa thực: thắp lên ngọn lửa trong gian 
bếp để sưởi ấm, để nấu chín thức ăn.... Ba từ “nhóm” sau được hiểu theo nghĩa ẩn dụ: bà truyền cho cháu 
tình yêu thương ruột thịt, tình đoàn kết chia sẻ xóm làng và đặc biệt hơn bà đã khơi dậy những tâm tình 
tuổi nhỏ, thức tỉnh trong tâm hồn cháu biết bao ước mơ và tình cảm tốt đẹp.
⇒ Như vậy đến đây ta thấy bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Ngọn 
lửa của tình yêu, của niềm tin, đức hi sinh không chỉ bà truyền cho cháu mà còn là của những thế hệ đi 
trước tiếp lửa cho thế hệ sau
- Khám phá ra những ý nghĩa kì diệu, cao cả, thiêng liêng từ bếp lửa của bà, cháu sung sướng thốt lên:
 “Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa”
Phép đảo ngữ, câu cảm thán với từ “ôi” đặt ở đầu câu bôc lộ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng, và vui sướng của 
cháu. Bếp lửa ấy luôn hiện diện cùng bà, tỏa sáng vẻ đẹp của bà. Đứa cháu nhỏ cảm thấy thật bất ngờ khi 
phát hện được những điều kì diệu thiêng liêng từ những thứ bình thường, giản dị. Cháu nhớ về bà, nhớ về 
Bếp lửa cũng chính là nhớ về quê hương, cội nguồn với tấm lòng tri ân sâu nặng.
3. Tổng kết vấn đề
- Giá trị nội dung: Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ “Bếp lửa” gợi lại 
những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và 
biết ơn của cháu đối với bà, cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.
 DeThiHay.net 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn - DeThiHay.net
- Giá trị nghệ thuật: Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm với miêu tả, tự sự và bình luận. 
Thành công của bài thơ còn ở sự sáng tạo hình ảnh “bếp lửa” gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm 
tựa, khơi gợi một kỉ niệm, cảm xúc, suy nghĩ về bà và tình bà cháu.
 DeThiHay.net 12 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Thái Bình môn Văn - DeThiHay.net
 ĐỀ SỐ 7
 ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT 
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 
 NĂM HỌC 2019-2020
 THÁI BÌNH
 MÔN: NGỮ VĂN
 ĐỀ CHÍNH THỨC
 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
PHẦN 1. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
 “Người đồng mình thô sơ da thịt
 Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
 Người đồng mình tự đục đã kê cao quê hương
 Còn quê hương thì làm phong tục
 Con ơi tuy thô sơ da thịt
 Lên đường
 Không bao giờ nhỏ bé được
 Nghe con.”
 (SGK Ngữ văn 9 - Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)
Câu 1. (0,5 điểm) Đoạn thơ trên trích từ tác phẩm nào, của ai?
Câu 2. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.
Câu 3. (1.0 điểm) Giải thích nghĩa của cụm từ "Người đồng mình".
Câu 4. (1,0 điểm) Trong đoạn thơ trên, tác giả đã nói đến những phẩm chất nào của "Người đồng mình?
Câu 5. (1.0 điểm) Từ những phẩm chất của "Người đồng mình", người cha mong muốn và dặn dò con 
điều gì?
PHẦN II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em sáng tạo của 
con người trong cuộc sống
Câu 2. (4,0 điểm) Cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương trong phần trích sau:
“Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy. Nàng rốt chèn rượu đầy tiền chồng mà rằng:
- Chàng đi chuyến này thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc mộc áo gấm trở về
quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc 
khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín 
quá kì, khiến cho tiện thiếp bản khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi 
người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn 
hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bồng.
 Nàng nói đến đây, mọi người đều ứa hai hàng lệ. Rồi đó, tiệc tiễn vừa tàn, áo chàng đành rứt Ngước 
mắt cảnh vật vẫn còn như cũ, mà lòng người đã nhuộm mối tình muôn dặm quan san!
 Bấy giờ, nàng đương có mang, sau khi xa chồng vừa đầy tuần thì sinh ra một đứa con trai, đặt tên là 
Đản. Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi 
buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được. Bà mẹ cũng vì nhớ con mà dần sinh ốm. Nàng hết sức 
 DeThiHay.net

File đính kèm:

  • docx12_de_thi_va_dap_an_ky_tuyen_sinh_lop_10_thai_binh_mon_van.docx