10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: 10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn
10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn - DeThiHay.net ĐỀ SỐ 5 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT CẦN THƠ NĂM HỌC 2021-2022 MÔN: NGỮ VĂN ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: (1) Con ong làm mặt, yêu hoa Con cả bơi, yêu nước, con chim ca, yêu trời. Con người muốn sống, con ơi Phải yêu đồng chỉ yêu người anh em. (2) Một ngôi sao chẳng sáng đêm Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng. Một người - đâu phải nhân gian? Sống chăng, một đồm lửa tàn mà thôi! (3) Núi cao bởi có đất bồi Núi chê đất thấp núi ngồi ở đâu? Muôn dòng sông đổ biển sâu Biển chê sông nhỏ, biển đâu nước còn (Trích Tiếng ru - Tố Hữu. Gió lộng, NXB Văn học, 1981) Câu 1. Xác định thành phần biệt lập trong khổ thơ (1) Câu 2. Chỉ ra các từ thuộc trường từ vựng “thế giới tự nhiên” “giới tự nhiên” trong khổ thơ (3). Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong hai câu thơ sau: Con ong làm một, yêu hoa Con cá bơi, yêu nước, con chim ca, yêu trời. Câu 4. Em hiểu như thế nào về hai câu thơ: Một người - đâu phải nhân gian? Sống chăng, một đồm lửa tàn mà thôi! II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về sự cần thiết của tỉnh thần tượng thân tương ái trong cuộc sống. Câu 2 (5,0 điểm) Phân tích thái độ và hành động của bé Thu qua hai đoạn trích sau: [...] Trong bữa cơm đó, anh Sáu gắp một cái trứng cá to vàng để vào chén nó. Nó liền lấy đũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung tóe cả mâm. Giận quá và không kịp suy nghĩ, anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên: DeThiHay.net 10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn - DeThiHay.net - Sao mày cứng đầu quá vậy, hả? Tôi tưởng con bé sẽ lăn ra khóc, sẽ giẫy, sẽ đạp đổ cả mâm cơm, hoặc sẽ chạy vụt đi. Nhưng không, nó ngồi im, đầu cúi gằm xuống. Nghĩ thế nào nó cầm đũa, gắp lại cái trứng cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy, bước ra khỏi mâm. Xuống bến, nó nhảy xuống xuồng, mở lòi tói cố làm cho dây lòi tói khua rổn rảng, khua thật to, rồi lấy dầm bơi qua sông. Nó sang qua nhà ngoại, méc với ngoại và khóc ở bên ấy. Chiều đó, mẹ nó sang dỗ dành mấy nó cũng không về... Và: [...] Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà. Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao. - Thôi! Ba đi nghe con! – Anh Sáu khe khẽ nói. Chúng tôi, mọi người – kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên: - Ba... a... a... ba! Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Tôi thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên. Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc: - Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con! Ba nó bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa... (Trích Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017) -HẾT- DeThiHay.net 10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn - DeThiHay.net HƯỚNG DẪN LÀM BÀI I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Câu 1: Thành phần biệt lập trong khổ thơ (1) là "ơi" – Thành phần gọi – đáp Câu 2: Các từ thuộc trường từ thế giới tự nhiên trong câu 3 là: Núi, đất, dòng sông, biển, nước Câu 3: Biên pháp nhân hóa được thể hiện ở từ "yêu". Đây là từ dùng cho con người nhưng lại được sử dụng cho con vật Câu 4: Học sinh có thể lý giải theo nhiều cách khác nhau, lý giải. Gợi ý: Câu thơ trên có thể hiểu: Một người không thể làm nên cả một nhân gian nghĩa là muốn thành công hãy đoàn kết, hãy sống trong tỉnh yêu thương của mọi người thay vì tách mình ra khỏi xã hội. II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1: 1. Mở đoạn a. Thế nào là tinh thần tương thân, tương ái? - Tinh thần tương thân, tương ái là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. 2. Thân đoạn Là sự quan tâm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống giữa con người với con người. b. Vì sao ta cần phải có tinh thần tương thân, tương ái? - Tinh thần tương thân, tương ái thể hiện phẩm chất, nhân cách cao quý của con người, là biểu hiện của tình yêu thương. - Tinh thần tương thân, tương ái giúp gắn kết con người lại với nhau, tạo ra sức mạnh vật chất lẫn tinh thần để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. - Tinh thần tương thân, tương ái giúp con người sống nhân ái hơn. - Sống không có tinh thần tương thân, tương ái, thể hiện sự vô cảm của con người, con người sẽ bị tách biệt khỏi tập thể. c. Học sinh thể hiện tinh thần tương thân, tương ái như thế nào? - Người có tinh thần tương thân, tương ái là người sống có tấm lòng nhân nghĩa, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp: + Trong gia đình: yêu thương, kính trọng ông bà, cha mẹ; sống hòa hợp, gắn bó với anh, chị, em; biết nhường nhịn lẫn nhau,.. + Trong nhà trường: kính trọng, yêu mến thầy cô giáo, tôn trọng, giúp đỡ bạn bè.... + Ngoài xã hội: biết cảm thông, chia sẻ với hoàn cảnh của người nghèo khó, biết tương trợ, giúp đỡ đồng bào vùng thiên tai, lũ lụt,... Dẫn chứng: Covid 19, bão lũ miền trung.... - Nhận thức: Biết tương thân, tương ái, giúp đỡ người khác trong khó khăn, hoạn nạn là việc làm tốt đẹp, cần tuyên dương, ngợi khen và lan tỏa trong cộng đồng. Thế nhưng, lòng tốt cũng cần phải đặt đúng chỗ, giúp đúng người, đúng việc, đừng để lòng tốt của mình bị kẻ xấu lợi dụng. DeThiHay.net 10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn - DeThiHay.net * Phê phán: Trong xã hội ngày nay vẫn còn những kẻ chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của bản thân mình, thờ ơ, vô cảm trước hoàn cảnh khó khăn, nỗi khổ đau của người khác. Những người như thế thật đáng chê trách. * Bài học: Không có gì đẹp bằng ánh sáng của lòng nhân ái. Hãy biết yêu thương, giúp đỡ người khác. 3. Kết đoạn - Khẳng định: Tinh thần tương thân, tương ái là truyền thống tốt đẹp, quý báu của dân tộc ta. Tương thân, tương ái là phẩm chất cần có ở mỗi con người. - Liên hệ: Chúng ta hôm nay cần phải gìn giữ và phát huy tinh thần tốt đẹp ấy trong thời đại ngày nay. Câu 2: 1. Mở bài: - Giới thiệu tác giả Nguyễn Quang Sáng - Giới thiệu tác phẩm Chiếc lược ngà. - Nêu vấn đề nghị luận: Tâm trạng của bé Thu trước và sau khi biết ông Sáu là cha được thể hiện thông qua hai đoạn trích. 2. Thân bài. * Vị trí đoạn trích - Đoạn trích thứ nhất được trích từ đoạn đầu tiên của tác phẩm khi ông Sáu trở về nhà và bé Thu không chịu nhận cha. - Đoạn trích thứ hai trích từ đoạn cuối của tác phẩm khi bé Thu nhận ra đó chính là cha của mình và tình cảm của cô bé với cha. * Phân tích a. Đoạn trích thứ nhất – bé Thu không chịu nhận cha. - Là cô bé sinh ra và lớn lên trong chiến tranh nên trong suốt 8 năm trời cô bé không được gặp ba. Cô chỉ biết mặt ba qua một tấm ảnh ba chụp chung với má. - Những tưởng ngày đoàn viên sau 8 năm một xa cách phải đầy mừng tủi, hạnh phúc nhưng cô bé lại thể hiện một thái độ khác thường. + Trước sự xúc động của ông Sáu, ba bé Thu, thì cô bé ngạc nhiên, hoảng sợ, mặt tái đi, bỏ chạy, cầu cứu má. + Những ngày sau đó dù ông dành hết thời gian bên con, yêu thương, chăm sóc nhưng bé Thu vẫn lạnh nhạt, xa lánh thậm chí bướng bỉnh, ngang ngạnh cự tuyệt ông: Cô bé không chịu gọi ông là cha. Những lúc phải nói với ông nó chỉ gọi trống không, bất chấp sự trách móc của mẹ. Lúc khó khăn, nguy cấp khi phải chắt nước nồi cơm vừa to, vừa nặng quá sức mình cô bé cũng không chịu nhờ ông Sáu. Nó tự xoay sở để không phải gọi ông là ba. Cô bé còn từ chối sự chăm sóc của ông rất quyết liệt. Nó hắt miếng trứng cá ông gắp cho ra khỏi bát làm đổ cả cơm. Lúc ông Sáu không kìm được nỗi đau khổ nên phạt bé Thu, cô bé ngay lập tức bỏ sang nhà bà ngoại. - Nhận xét: tác dụng của việc miêu tả thái độ, hành động khác thường của bé Thu + Tái hiện được hoàn cảnh éo le của chiến tranh. + Cho thấy bé Thu hồn nhiên nhưng cũng bướng bỉnh, cá tính. Cô không nhận ông Sáu là ba vì trên mặt ông có vết sẹo, không giống với người ba của cô bé trên tấm hình suốt 8 năm nay. DeThiHay.net 10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn - DeThiHay.net + Đặc biệt, cách chối từ tình cảm của ông Sáu chính là cách bé Thu thể hiện tình yêu thương thắm thiết giành cho cha mình. b. Đoạn trích thứ hai – khi bé Thu biết ông Sáu chính là cha mình. - Sau khi nghe bà ngoại giải thích, bé Thu đã trở về nhà trong sáng ngày ông Sáu lên đường về đơn vị. Bé Thu đã thay đổi hoàn toàn thái độ trong sự ngỡ ngàng của ông Sáu và mọi người. + Nó không cau có, bướng bỉnh mà buồn rầu và nghĩ ngợi sâu xa. + Khi bắt gặp cái nhìn trìu mến, buồn bã của ba đôi mắt nó bỗng xôn xao. Đó là cái xôn xao của sự đồng cảm. Bé Thu nhận ra những tiếc nuối, xót xa, yêu thương trong ánh mắt của ba mình. + Đến giây phút cuối cùng, khi ông Sáu cất lời từ biệt con bé mới cất lên tiếng gọi ba xé lòng. Tiếng gọi bị kìm nén suốt 8 năm Tiếng gọi chất chứa bao tình yêu thương thắm thiết. + Không chỉ vậy, nó xô đến ôm chặt lấy ba, hôn ba, hôn lên vết lên vết thẹo: Con bé muốn giữ chặt ba, không cho ba đi. Nó lo sợ ba sẽ đi mất. Nó muốn bày tỏ tất cả tình yêu của mình dành cho ba. - Nhận xét: + Trong khoảnh khắc, mọi khoảng cách dành với ba bị xóa bỏ → Cô bé đã bộc lộ sự gắn bó và tình cảm của mình dành cho ba → khiến mọi người xúc động. + Miêu tả sự biến đổi tình cảm của bé Thu, tác giả đã một lần nữa tô đậm tình yêu ba tha thiết của cô bé. Khi lạnh nhạt cũng như khi quấn quýt, bé Thu đều hướng đến ba mình. + Qua đó, ta thấy một bé Thu gan góc, bướng bỉnh nhưng rất giàu tình cảm và dễ xúc động. III. Kết bài: Khái quát lại nội dung đoạn trích. DeThiHay.net 10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn - DeThiHay.net ĐỀ SỐ 6 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT CẦN THƠ NĂM HỌC 2020 - 2021 MÔN: NGỮ VĂN ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỀU (3,0 điểm) Đọc hai đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Đoạn trích 1: Tôi là người nếu mua một chiếc áo mới thì sẽ mặc ngay. Tôi thích triết lí: "Đừng bao giờ để dành bất cứ điều gì cho một dịp đặc biệt nào đó. Bởi vì, mỗi ngày chúng ta đang sống đã là một dịp rất đặc biệt rồi!" Tôi cũng không có suy nghĩ “mình còn nhiều thời gian” hoặc “lần sau mình sẽ làm” vì tôi biết, có những cơ hội chỉ đến một lần. Biết ra sao ngày sau? Sống là không chờ đợi! [...] Tôi hiểu, mỗi ngày đang đến không phải lúc nào cũng ngập tràn ánh nắng, sẽ có những ngày mây mù, âm u. Cho nên, nhiều khi phải tự tạo ánh sáng - niềm vui cho chính mình! (Trích Tin vào chính mình - Nguyễn Tuấn Quỳnh, NXB Văn hóa - Văn nghệ, 2018, tr.72) Đoạn trích 2: Mọi vật đều có thời điểm của nó. Em đừng cố rút ngắn thời gian. Nếu trái chưa chín thì đừng nên hái. Nếu nhộng chưa chín thì đừng phá vỡ kén tằm. Nếu chưa gặp được một tâm hồn đồng điệu thì đừng trao gửi trái tim [...] Đừng nôn nóng khi nhìn thấy những loài cây khác đã khoe lá, khoe hoa. Hãy cứ bình tâm. Hãy đợi thời điểm của mình, em nhé. Hãy tận dụng khoảng lặng này để bồi đắp cho chính mình và học cách khám phá điều sẽ xảy ra. Nếu em biết suy tư, khoảng thời gian chờ đợi không bao giờ là vô nghĩa. (Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn - Phạm Lữ Ân, NXB Hội nhà văn, 2018, tr.69) Câu 1. Dựa vào đoạn trích 1, hãy cho biết vì sao tôi không có suy nghĩ “mình còn nhiều thời gian" hoặc "lần sau mình sẽ làm"? Câu 2. Xét về mục đích nói, câu sau thuộc kiểu câu nào? điều sẽ xảy ra. Hãy tận dụng khoảng lăng này để bồi đắp cho chính mình và học cách khám phá Câu 3. Tôi đã nhận thức được điều gì về cuộc sống qua câu: Tôi hiểu, mỗi ngày đang đến không phải lúc nào cũng ngập tràn ánh nắng, sẽ có những ngày mây mù, âm u? Câu 4. Sự khác biệt về nội dung được thể hiện trong hai đoạn trích trên là gì? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Trong phần Đọc hiểu, Nguyễn Tuân Quỳnh cho rằng: Sống là không chờ đợi! Còn Phạm Lữ Ân lại khẳng định: Chờ đợi không bao giờ là vô nghĩa. Từ hai quan điểm trên. hay viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ về một quan điểm có ý nghĩa nhất đối với em. Câu 2 (5,0 điểm) DeThiHay.net 10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn - DeThiHay.net Phân tích đoạn trích sau: Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính. Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vùng trán ướt mồ hôi. Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh vá Miệng cười buốt giá Chân không giày Thương nhau tay nắm lấy bàn tay. (Trích Đồng Chí - Chính Hữu, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.128-129) -HẾT- Ghi chú: Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Căn bộ coi thi không giải thích gì thêm. DeThiHay.net 10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn - DeThiHay.net HƯỚNG DẪN LÀM BÀI I. ĐỌC HIỀU (3,0 điểm) Câu 1: Tôi không có suy nghĩ “mình còn nhiều thời gian” hoặc “lần sau mình sẽ làm” vì tôi biết, có những cơ hội chỉ đến một lần.., sống là không chờ đợi. Câu 2: Xét về mục đích nói, câu trên thuộc kiểu câu cầu khiến. Câu 3: Tôi đã nhận thức được cuộc sống có niềm vui, có nỗi buồn; có vinh quang và có khó khăn. Mọi thứ luôn tồn tại một cách đan xen và song hành với nhau. Bởi vậy, đôi khi phải tạo ra ánh sáng và niềm vui cho chính mình. Câu 4: Khác biệt về nội dung được thể hiện trong hai đoạn trích là: - Đoạn 1: Đề cập đến nội dung sống là không chờ đợi. Hãy biết sống và tận hưởng từng phút giây, đừng để thời gian trôi qua mới tiếc nuối. - Đoạn 2: Đề cập đến tính thời điểm của vạn vật. Mỗi thứ đều có thời điểm phù hợp riêng của nó, vì vậy không nên nôn nóng mà phải biết chờ đợi. II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1: 1. Giới thiệu vấn đề 2. Giải thích vấn đề - Sống là không chờ đợi: sống tận hưởng, tận hiến từng phút giây ở cuộc đời, - Chờ đợi không bao giờ là vô nghĩa: Mọi thứ đều có thời điểm riêng của nó, sự chờ đợi đem đến cho con người những hạnh phúc xứng đáng. ⇒ Hai quan niệm tưởng chừng trái ngược nhau nhưng thực tế lại bổ sung ý nghĩa cho nhau. Như vậy, ở cuộc đời ngoài việc sống tận hưởng, tận hiến từng phút giây, sống và tỉnh thức trong hiện tại; con người cần phải biết chờ đợi những thứ đáng chờ đợi. 3. Phân tích, bàn luận vấn đề - Ý nghĩa của việc biết sống là không chờ đợi và biết chờ đợi những điều có ý nghĩa: + Thời gian là thứ quý giá và qua đi không thể lấy lại được nên chúng ta cần cần biết trân quý những phút giây mà mình còn được hít thở - đó là thực tại này. + Người biết sống cho hiện tại sẽ làm cho cuộc đời của mình có ý nghĩa ngay tại khoảnh khắc này, hiện tại này. + Mỗi thứ đều có thời điểm riêng của nó. Việc chờ đợi những thứ như vậy sẽ khiến con người có được thành công viên mãn nhât. + Có chờ đợi, con người mới thấm thía được ý nghĩa của mọi sự, mọi vật trên cuộc đời này. - Sống là không chờ đợi khác với sống gấp, sống chỉ biết hưởng thụ. - Biết chờ đợi không phải là ỷ lại, dựa dẫm vào người khác. - Mỗi người cần biết hài hòa hai quan niệm sống trên. 4. Liên hệ bản thân và Tổng kết DeThiHay.net 10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn - DeThiHay.net Câu 2: 1. Giới thiệu chung 2. Phân tích, cảm nhận * Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí - Biểu hiện đầu tiên của tình đồng chí là thấu hiểu những tâm tư thầm kín của nhau. + Người lính lên đường ra trận quyết tâm để lại sau lưng những gì quí giá, thân thuộc nhất: “Ruộng nương anh gửi bạn bạn thân cây Gian nhà không mặc kệ gió lung lay" Hai chữ “mặc kệ” thể hiện sự quyết tâm dứt khoát ra đi nhưng đó không phải là phó mặc bởi hình ảnh quê hương, ruộng nương thiếu người chăm sóc, ngôi nhà xiêu vẹo trước gió vẫn hiển hiện đã diễn tả tình cảm thiết tha của họ với gia đình. + Hình ảnh nhân hóa, hoán dụ trong câu thơ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” không chỉ gợi về quê hương, về hậu phương của người lính, ý thơ nói về quê hương nhớ người lính mà ta như thấy được nỗi nhớ của người lính dành cho quê hương, đó là nỗi nhớ hai chiều ⇒ Như vậy, đồng chí tức là sự cảm thông sâu xa cho những nỗi miềm tâm tư thầm kín của nhau. - Biểu hiện thứ hai của tỉnh đồng chỉ là: cùng nhau chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn trong cuộc đời người lính: + Đó là những cơn sốt rét rừng hành hạ không thuốc thang. Đó là đói rét, chân không giày, đầu không mũ, áo một manh. Đó là sương muối tê buốt như cắt da cắt thịt. Đây là hoàn cảnh chung của bộ đội ta trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. + Tác giả đã xây dựng những câu thơ sóng đôi, đối ứng nhau trong từng cặp, từng câu. Đáng chú ý là người lính bao giờ cũng nhìn bạn, nói về bạn trước khi nói về mình, chữ “anh” bao giờ cũng xuất hiện trước chữ “tôi”, điều đó thể hiện sự yêu thương, trân trọng giữa những người lính với nhau. - Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp những người lính vượt qua những thử thách ấy. Họ quên mình để động viên nhau, truyền cho nhau hơi ẩm. Đó là những nụ cười: “Miệng cười buốt giá", là "Thương nhau tay nắm ấy bàn tay”. Họ đã quên đi sự giá lạnh của bản thân mà mỉm cười để sưởi ấm cho tâm hồn của những người đồng đội. Đó là những cái nắm tay biết nói của tỉnh yêu thương để truyền cho nhau nghị lực và sức mạnh. ⇒ Câu thơ không chỉ nói lên tình cảm gắn bó sâu nặng của những người sức mạnh của tình cảm ấy. Bài thơ “Đồng chí” không rực rỡ chiến công mà rực rỡ tình đồng đội ẩm nồng khiến họ có thể sống và làm nên bao chiến công hiển hách. 3. Tổng kết DeThiHay.net 10 Đề thi và Đáp án kỳ tuyển sinh Lớp 10 Cần Thơ môn Văn - DeThiHay.net ĐỀ SỐ 7 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT CẦN THƠ NĂM HỌC 2019-2020 MÔN: NGỮ VĂN ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Có gì đâu, có gì đâu Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù Vươn mình trong gió tre đu Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm. (Trích Tre Việt Nam - Nguyễn Duy, tập Cát trắng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn thơ trên. Câu 2. Chỉ ra các từ láy trong đoạn thơ trên. Câu 3. Nêu tác dụng của 01 biện pháp tu từ đặc sắc được sử dụng trong hai câu thơ: "Bão bùng thân bọc lấy thân Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm" Câu 4. Theo em, hình ảnh cây tre đã gợi lên những phẩm chất cao quý nào của dân tộc Việt Nam? II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết của tinh thần lạc quan trong cuộc sống Câu 2 (5,0 điểm) Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long có đoạn: ... Nhân dịp Tết một đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đây. Các chú lại cử một chú lên tận đây. Chú ấy nói: nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu, thật là đột ngột, không ngờ lại là như thế (...) Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc. Ơ bác vẽ cháu đấy ư? Không, không đừng vẽ cháu! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn" (Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017, tr 185). Và tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lệ Minh Khuê có đoạn: “Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần, Ngày nào Ít ba lần. Tôi cố nghĩ đến cái chết. DeThiHay.net
File đính kèm:
10_de_thi_va_dap_an_ky_tuyen_sinh_lop_10_can_tho_mon_van.docx

